Quyết định 268/QĐ-UBND năm 2025 về Đề án “Nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên khu vực biên giới, vùng biển tỉnh Nghệ An giai đoạn 2025 - 2030”
| Số hiệu | 268/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 04/02/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 04/02/2025 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Nghệ An |
| Người ký | Nguyễn Văn Đệ |
| Lĩnh vực | Tài nguyên - Môi trường |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 268/QĐ-UBND |
Nghệ An, ngày 04 tháng 02 năm 2025 |
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai; Luật Đê điều ngày 17/6/2020; Luật khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 ngày 23/11/2015; Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 ngày 20/6/2023;
Căn cứ Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 13/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng tránh lũ quét và sạt lở đất;
Căn cứ các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 về việc phê duyệt chiến lược quốc gia PCTT đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 về việc quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai;
Căn cứ các Kế hoạch của Tỉnh ủy: số 51-KH/TU ngày 27/7/2021 về việc thực hiện Kết luận số 02-KL/TW ngày 18/5/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 47-CT/TW của Ban Bí thư khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy; số 137-KH/TU ngày 23/11/2022 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30/8/2022 của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh Nghệ An;
Căn cứ các Kế hoạch của UBND tỉnh: số 444/KH-UBND ngày 05/8/2020 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư; số 140/KH-UBND ngày 22/3/2021 về việc triển khai thi hành Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC; số 574/KH-UBND ngày 18/7/2024 về việc triển khai thực hiện Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 23/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ;
Theo đề nghị của Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An tại Tờ trình số 269/TTr-BCH ngày 04/02/2025.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
NÂNG
CAO NĂNG LỰC ỨNG PHÓ SỰ CỐ, THIÊN TAI VÀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN KHU VỰC BIÊN GIỚI,
VÙNG BIỂN TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2025 – 2030
(Kèm theo Quyết định số 268/QĐ-UBND ngày 04/02/2025 của UBND tỉnh)
Tỉnh Nghệ An có 468,281 km đường biên giới đất liền tiếp giáp với 3 tỉnh: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay/nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và 82 km bờ biển (có diện tích 7.529 km2). Khu vực biên giới (KVBG) của tỉnh có 61 xã, phường/11 huyện, thị xã biên giới, ven biển. Toàn tỉnh hiện có 3.161 phương tiện/11.956 lao động khai thác thủy sản trên biển, 150 tàu vận tải sông, biển. Ngoài ra, có nhiều phương tiện ngoại tỉnh thường xuyên qua lại, neo đậu tại các cảng Cửa Lò, Bến Thủy, Nghi Thiết và các cửa sông, cửa lạch. Địa bàn KVBG của tỉnh có địa hình hiểm trở, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lớn, sạt lở đất đá, lũ quét... Bên canh đó, lực lượng, phương tiện, trang bị phục vụ công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (ƯPSCTT-TKCN) còn hạn chế, chưa đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT-TKCN) trong tình hình hiện nay.
1. Chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và đảm bảo quốc phòng, an ninh (QP-AN); Nhân dân vùng ảnh hưởng sự cố, thiên tai được thụ hưởng nhiều chế độ, chính sách để yên tâm phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện đáng kể, góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới. Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành nhiều Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, hướng dẫn quy định cụ thể hoạt động phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các ngành, địa phương nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần giảm thấp nhất thiệt hại do sự cố, thiên tai gây ra, xây dựng xã hội an toàn, ổn định.
Trên cơ sở cơ chế, chính sách của Trung ương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp nhằm phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công tác phòng ngừa, ứng phó, giảm nhẹ thiên tai và TKCN. Trong đó, Tỉnh ủy đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình hành động để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN; UBND tỉnh đã ban hành nhiều quyết định, kế hoạch hành động để chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố lực lượng nòng cốt, xung kích, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện, hệ thống văn bản pháp luật, kết hợp phát triển KT-XH với nhiệm vụ PCTT-TKCN và củng cố QP-AN, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 268/QĐ-UBND |
Nghệ An, ngày 04 tháng 02 năm 2025 |
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019;
Căn cứ Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai; Luật Đê điều ngày 17/6/2020; Luật khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 ngày 23/11/2015; Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 ngày 20/6/2023;
Căn cứ Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
Căn cứ Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 13/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng tránh lũ quét và sạt lở đất;
Căn cứ các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 về việc phê duyệt chiến lược quốc gia PCTT đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 về việc quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai;
Căn cứ các Kế hoạch của Tỉnh ủy: số 51-KH/TU ngày 27/7/2021 về việc thực hiện Kết luận số 02-KL/TW ngày 18/5/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 47-CT/TW của Ban Bí thư khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy; số 137-KH/TU ngày 23/11/2022 về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30/8/2022 của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh Nghệ An;
Căn cứ các Kế hoạch của UBND tỉnh: số 444/KH-UBND ngày 05/8/2020 về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư; số 140/KH-UBND ngày 22/3/2021 về việc triển khai thi hành Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC; số 574/KH-UBND ngày 18/7/2024 về việc triển khai thực hiện Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 23/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ;
Theo đề nghị của Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An tại Tờ trình số 269/TTr-BCH ngày 04/02/2025.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký
Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nghệ An, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
NÂNG
CAO NĂNG LỰC ỨNG PHÓ SỰ CỐ, THIÊN TAI VÀ TÌM KIẾM CỨU NẠN TRÊN KHU VỰC BIÊN GIỚI,
VÙNG BIỂN TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2025 – 2030
(Kèm theo Quyết định số 268/QĐ-UBND ngày 04/02/2025 của UBND tỉnh)
Tỉnh Nghệ An có 468,281 km đường biên giới đất liền tiếp giáp với 3 tỉnh: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay/nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và 82 km bờ biển (có diện tích 7.529 km2). Khu vực biên giới (KVBG) của tỉnh có 61 xã, phường/11 huyện, thị xã biên giới, ven biển. Toàn tỉnh hiện có 3.161 phương tiện/11.956 lao động khai thác thủy sản trên biển, 150 tàu vận tải sông, biển. Ngoài ra, có nhiều phương tiện ngoại tỉnh thường xuyên qua lại, neo đậu tại các cảng Cửa Lò, Bến Thủy, Nghi Thiết và các cửa sông, cửa lạch. Địa bàn KVBG của tỉnh có địa hình hiểm trở, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lớn, sạt lở đất đá, lũ quét... Bên canh đó, lực lượng, phương tiện, trang bị phục vụ công tác phòng ngừa, ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (ƯPSCTT-TKCN) còn hạn chế, chưa đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn (PCTT-TKCN) trong tình hình hiện nay.
1. Chủ trương, chính sách của Trung ương, của tỉnh
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) và đảm bảo quốc phòng, an ninh (QP-AN); Nhân dân vùng ảnh hưởng sự cố, thiên tai được thụ hưởng nhiều chế độ, chính sách để yên tâm phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện đáng kể, góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới. Chính phủ, các Bộ, ngành đã ban hành nhiều Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, hướng dẫn quy định cụ thể hoạt động phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các ngành, địa phương nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần giảm thấp nhất thiệt hại do sự cố, thiên tai gây ra, xây dựng xã hội an toàn, ổn định.
Trên cơ sở cơ chế, chính sách của Trung ương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp nhằm phát huy sức mạnh cả hệ thống chính trị và toàn dân trong công tác phòng ngừa, ứng phó, giảm nhẹ thiên tai và TKCN. Trong đó, Tỉnh ủy đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình hành động để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN; UBND tỉnh đã ban hành nhiều quyết định, kế hoạch hành động để chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố lực lượng nòng cốt, xung kích, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện, hệ thống văn bản pháp luật, kết hợp phát triển KT-XH với nhiệm vụ PCTT-TKCN và củng cố QP-AN, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
2.1. Công tác quán triệt, triển khai
- Quán triệt sâu sắc chủ trương, cơ chế chính sách của Trung ương, hàng năm UBND tỉnh ban hành các Chỉ thị, hướng dẫn về tăng cường đảm bảo an toàn công trình thủy lợi, PCTT-TKCN, đảm bảo an toàn cho Nhân dân. Ban Chỉ huy PCTT- TKCN&PTDS tỉnh giao chỉ tiêu chuẩn bị phương tiện, vật tư dự trữ cho các đơn vị, địa phương và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc công tác chuẩn bị PCTT-TKCN ở các địa bàn, kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, thiếu sót.
- UBND tỉnh đã ban hành các Quyết định: số 227/QĐ-UBND ngày 04/6/2015 về việc phê duyệt phương án ứng phó bão mạnh, siêu bão; số 4135/QĐ-UBND ngày 14/9/2018 về việc phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-CP của Chính phủ về công tác PCTT trên địa bàn tỉnh Nghệ An; số 1361/QĐ-UBND ngày 03/6/2024 về việc ban hành phương án ứng phó với thiên tai trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Các Sở, ngành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao đã chủ động xây dựng kế hoạch, ban hành các văn bản hướng dẫn các đơn vị liên quan thực hiện tốt công tác PCTT-TKCN, đảm bảo an toàn cho người, tài sản Nhà nước và nhân dân trước thiên tai; lồng ghép các nội dung PCTT vào quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH thuộc lĩnh vực ngành.
- UBND các huyện, thị xã biên giới, ven biển đã xây dựng kế hoạch PCTT- TKCN theo chu kỳ 05 năm tương ứng với kế hoạch phát triển KT-XH của từng địa phương; hàng năm bổ sung, điều chỉnh kế hoạch phù hợp với tình hình thực tế. Xây dựng, triển khai các phương án về ứng phó thiên tai, đảm bảo an toàn hồ chứa và vùng hạ du và bảo vệ khu vực trọng điểm xung yếu về đê điều, hồ đập; phương án sơ tán dân sinh sống trong khu vực nguy hiểm ở bãi sông, trũng thấp khi có mưa lũ lớn và khu vực sát mép nước, ven bờ biển, cửa sông, cửa lạch khi có bão; phương án phòng tránh và di dời dân ra khỏi khu vực nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở đất...
2.2. Công tác thông tin, tuyên truyền
- UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh mở chuyên mục “Chủ động phòng, chống, ƯPSCTT” và phát sóng tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức, kinh nghiệm cho Nhân dân chủ động ứng phó khi thiên tai xảy ra; xây dựng các văn bản chỉ đạo điều hành, các Website, chuyên mục để phổ biến nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; đăng tải thông tin, kiến thức về PCTT trên ứng dụng mạng xã hội Facebook, Zalo, đến nay, hầu hết các địa phương đều có trang Facebook “Phòng chống thiên tai”, kết nối với trang của tỉnh và Trung ương để theo dõi, cập nhật, chia sẻ thông tin, bài viết từ các trang của tỉnh và Trung ương.
- Các sở, ngành, địa phương đã lồng ghép tuyên truyền trực tiếp pháp luật, kinh nghiệm, kỹ năng phòng tránh, ƯPSCTT-TKCN qua hội nghị, các lớp tập huấn cho cán bộ, hội viên, tình nguyện viên và người dân với hàng trăm nghìn lượt người; in ấn cấp phát hàng chục nghìn tờ rơi, tờ gấp pháp luật, treo băng zôn, khẩu hiệu tại cộng đồng; đăng tải nhiều trang, bài, tin trên báo, đài Trung ương và địa phương để tuyên truyền. Trong đó, tập trung tuyên truyền vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn dân trong PCTT-TKCN; biểu dương gương người tốt, việc tốt...
- UBND các huyện, thị xã biên giới, ven biển đã chỉ đạo UBND cấp xã lồng ghép nội dung PCTT vào quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH; thường xuyên tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên phương tiện truyền thông cho Nhân dân và thông qua các hội nghị tập huấn, sơ, tổng kết để quán triệt, phổ biến cho hàng nghìn lượt cán bộ cơ sở và lực lượng xung kích về công tác PCTT-TKCN.
2.3. Tổ chức, bộ máy chỉ huy, điều hành công tác ƯPSCTT-TKCN
Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS từ tỉnh đến cấp xã hàng năm được kiện toàn đảm bảo số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy, chính quyền cùng cấp. Các thành viên Ban Chỉ huy các cấp làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, được Trưởng ban phân công nhiệm vụ và chịu trách nhiệm cụ thể trong từng lĩnh vực công tác. Trong đó, cấp tỉnh, Trưởng ban là đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh, Phó trưởng ban Thường trực là đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh, các Phó trưởng ban khác và thành viên là Lãnh đạo các Sở, ban, ngành; Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS đặt tại Chi cục Thủy lợi, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh. Cấp huyện, trưởng ban là Chủ tịch UBND huyện, 01 Phó Chủ tịch cùng cấp làm Phó trưởng ban thường trực, các Phó trưởng ban khác và thành viên là lãnh đạo các phòng, ban, đơn vị cùng cấp; Văn phòng thường trực là Phòng Nông nghiệp và PTNT (hoặc Phòng Kinh tế - Hạ tầng) và cán bộ chuyên môn. cấp xã, trưởng ban là Chủ tịch UBND xã, 01 Phó Chủ tịch cùng cấp làm Phó trưởng ban thường trực, các Phó trưởng ban và thành viên gồm quân sự, công an, Đồn Biên phòng, cán bộ thủy lợi, nông nghiệp, trưởng các tổ chức chính trị-xã hội và đoàn thể; bộ phận thường trực là một số cán bộ chuyên môn.
Quán triệt phương châm “4 tại chỗ”, hàng năm căn cứ kế hoạch, phương án PCTT-TKCN đã được phê duyệt, các sở, ngành, địa phương đăng ký huy động phương tiện, vật tư, trang bị đảm bảo thực hiện nhiệm vụ PCTT-TKCN, cụ thể:
- Về phương án huy động lực lượng: Lực lượng BĐBP, Quân sự, Công an làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống, ƯPSCTT-TKCN (hàng năm huy động khoảng 7.000 cán bộ, chiến sĩ), cùng với lực lượng xung kích (59 Đội/590 người) và lực lượng cứu tải thương, thông tin cấp xã. Ngoài ra, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh hiệp đồng với các đơn vị của Bộ Quốc phòng và Quân khu 4 đóng quân trên địa bàn sẵn sàng tham gia thực hiện nhiệm vụ khi có yêu cầu.
- Về phương án huy động phương tiện, trang thiết bị: Tập trung huy động phương tiện của BĐBP tỉnh, quân sự, công an và các địa phương, doanh nghiệp trên địa bàn.
- Về phương án dự trữ vật tư của các địa phương và Nhà nước, gồm: Đất, đá hộc, đá dăm, cát, cọc tre, rọ tre, rọ thép, bao tải, bạt, thép sợi...
- Về phương án đảm bảo hậu cần, gồm: Gạo, mỳ tôm, lương khô, nước uống, muối, dầu diezel, xăng, dầu hỏa..., đảm bảo số lượng theo quy định.
- Về phương án đảm bảo y tế và xử lý môi trường sau thiên tai: Thành lập 71 Tổ vận chuyển cấp cứu; 34 Đội phẫu thuật; 64 Đội vệ sinh phòng dịch; 43 cơ số y dụng cụ; 153 cơ số thuốc; 640 giường bệnh; 02 tấn cloramin B; 50 máy xử lý nước...
- Đảm bảo thông tin: Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) xây dựng phương án đảm bảo thông tin kịp thời, thông suốt trong mọi tình huống; chuẩn bị đủ thiết bị, vật tư dự phòng, tổ chức xe thông tin cơ động vô tuyến sóng ngắn, xe lưu động phát sóng thông tin di động khi mạng điện thoại cố định và di động bị sự cố; sử dụng mạng thông tin nghiệp vụ (VTĐ, HTĐ) của các đơn vị BĐBP tỉnh.
2.5. Công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN và khắc phục hậu quả
- Lực lượng quân sự, BĐBP và công an tỉnh làm nòng cốt, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phòng chống, ƯPSCTT-TKCN, xác định đây là nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình. Hàng năm, các đơn vị đã quán triệt, chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, chủ động triển khai đồng bộ từ khâu lập kế hoạch, dự kiến phương án, chuẩn bị lực lượng, phương tiện sẵn sàng cơ động làm nhiệm vụ. Khi xảy ra thiên tai chủ động triển khai lực lượng, phương tiện phối hợp với các địa phương tổ chức ứng cứu kịp thời và tích cực khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, sản xuất cho nhân dân.
- Từ năm 2020 - 2024, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Công an tỉnh đã điều động trên 40.000 lượt cán bộ, chiến sĩ cùng với hơn 1.320 lượt phương tiện các loại thực hiện nhiệm vụ phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), khắc phục hậu quả thiên tai, TKCN và ứng phó sự cố tràn dầu (ƯPSCTD); tổ chức di dời khẩn cấp 701 hộ dân, sơ tán trên 5.652 hộ dân. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và các Đồn Biên phòng chủ trì, phối hợp với các lực lượng, địa phương và nhân dân thông báo, kêu gọi, hướng dẫn gần 155.000 lượt tàu thuyền/875.235 lao động vào nơi tránh trú an toàn; cứu nạn thành công 96 vụ/94 phương tiện, đưa vào bờ an toàn 267 nạn nhân và 18 phương tiện bị nạn trên biển. Qua các đợt sự cố, thiên tai được sự quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, công tác khắc phục hậu quả được thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, an toàn và trách nhiệm cao, kịp thời ổn định đời sống, sản xuất cho Nhân dân vùng bị ảnh hưởng thiên tai.
2.6. Công tác dự báo, cảnh báo và thông báo sự cố, thiên tai
- Toàn tỉnh hiện có 09 trạm khí tượng, 11 trạm thủy văn, 82 trạm đo mưa tự động để quan trắc, cảnh báo sớm lũ quét, sạt lở đất phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành ứng phó thiên tai. Các cơ quan chuyên môn thường xuyên theo dõi nắm chắc tình hình, đặc biệt là Đài khí tượng thủy văn Bắc Trung bộ đã kịp thời dự báo, thông báo, cảnh báo mưa lũ, sạt lở đất, ngập úng và các hiện tượng thời tiết cực đoan thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thư điện tử, tin nhắn Zalo, SMS, điện thoại di động hoặc trực tiếp cho nhân dân chủ động phòng tránh, hạn chế thấp nhất thiệt hại.
- Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Đài Thông tin Duyên hải (TTDH) Bến Thủy phát huy hiệu quả kênh thông tin báo bão và bắn pháo hiệu thông báo cho hàng chục nghìn lượt người, phương tiện hoạt động trên biển biết diễn biến bão, ATNĐ, thời tiết nguy hiểm để chủ động di chuyển phòng tránh và tiếp nhận, xử lý hàng ngàn tin liên quan đến thiên tai, sự cố trên biển.
- Các Đồn Biên phòng phối hợp chặt chẽ với cấp ủy chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức kiểm tra, rà soát đánh giá nguy cơ xảy ra thiên tai, sự cố, cháy rừng có thể xảy ra tại các khu vực trọng điểm để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, phương án và kịp thời thông báo, cảnh báo, phòng ngừa, ứng phó không để bị động, bất ngờ.
- Thực hiện Thông tư số 05/2016/TT-BKHĐT ngày 06/6/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn lồng ghép nội dung PCTT vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, KT-XH. Ngày 17/6/2016, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 6410/UBND-THKH giao các sở, ngành triển khai thực hiện tốt Thông tư trên, đến nay công tác PCTT đã được lồng ghép vào quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH, trong đó chú trọng bảo vệ môi trường, quy hoạch vùng dân cư, bờ bãi sông, hành lang bảo vệ đê, quy hoạch đê và các trạm bơm tiêu úng.
- HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về phát triển KT-XH 5 năm 2021-2025 và hàng năm của tỉnh; trong đó, xác định việc thực hiện đồng bộ các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và lồng ghép các nhiệm vụ PCTT-TKCN. Xây dựng quy hoạch tỉnh Nghệ An giai đoạn 2020-2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó, tích hợp phương án quy hoạch phát triển thủy lợi và PCTT tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 vào quy hoạch chung của tỉnh.
- Thực hiện có hiệu quả các dự án, chương trình phát triển KT-XH, xây dựng nông thôn mới gắn với nhiệm vụ ƯPSCTT-TKCN và đảm bảo QP-AN trên biên giới, vùng biển, đảo như: Phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, du lịch, ngành vận tải, cảng biển gắn với PCTT và bảo vệ môi trường; quy hoạch cụm tuyến dân cư biên giới và phương án sắp xếp ổn định dân cư trong khu vực nguy cơ lũ quét, sạt lở đất; ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông, đặc biệt là hệ thống đường tuần tra biên giới, đường ven biển, đường dân sinh phát triển KT-XH và cơ động PCTT; dự án bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ, đầu nguồn và rừng ngập mặn; dự án xây dựng, nâng cấp các cảng cá, khu neo đậu, âu tránh trú bão, nạo vét luồng lạch đảm bảo an toàn cho người, phương tiện thủy; xây dựng các công trình PCTT, hồ, đập phục vụ điện, nước sinh hoạt, sản xuất và tiêu thoát lũ....
2.8. Công tác phối hợp, hiệp đồng và hợp tác quốc tế
- UBND tỉnh chỉ đạo Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh xây dựng quy chế, kế hoạch phối hợp với Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1, Hải đoàn Biên phòng 38, Kiểm ngư, Trung tâm ƯPSCTD khu vực miền Bắc, Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải khu vực I, BĐBP các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình để nắm tình hình, trao đổi thông tin, tuần tra bảo vệ chủ quyền, kết hợp hỗ trợ ngư dân ứng phó các tình huống sự cố, thiên tai. Kết quả: Đã trao đổi, xử lý 317 tin liên quan đến công tác bảo vệ chủ quyền và CNCH, tổ chức TKCN thành công 27 vụ/27 phương tiện/209 lao động bị nạn trên biển đưa vào bờ an toàn.
- Sở Nông nghiệp và PTNT, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã phối hợp với lực lượng chức năng, chính quyền địa phương 2 bên biên giới tổ chức 107 cuộc giao ban, ký kết nhiều kế hoạch, chương trình bảo vệ rừng, PCCCR, thông báo về cấp độ, nguy cơ cháy rừng, mưa lũ, sự cố môi trường, thiên tai, dịch bệnh có thể xảy ra trên biên giới; tổ chức tuyên truyền, khuyến cáo nhân dân chủ động phòng ngừa và chấp hành tốt các quy định; thống nhất phương án huy động lực lượng, phương tiện thực thi nhiệm vụ PCTT-TKCN và khắc phục hậu quả khi có tình huống, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra, xây dựng biên giới hòa bình, ổn định và phát triển.
3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt triển khai thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN của một số cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị chưa toàn diện; kế hoạch, phương án ứng phó chưa sát thực tế, còn bị động, bất ngờ, lúng túng khi xử lý tình huống, nhất là việc huy động lực lượng, phương tiện tại chỗ; việc thể chế hóa các chủ trương chính sách của cấp trên chưa phù hợp với thực tiễn và nhiệm vụ của đơn vị, địa phương.
- Công tác thông tin, tuyên truyền có lúc, có nơi chưa kịp thời, nhất là vùng sâu, vùng xa; nắm tình hình có lúc còn chậm, thiếu chính xác; công tác dự báo, cảnh báo, thông báo về sự cố, thiên tai chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; triển khai ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế. Hệ thống thông tin phục vụ chỉ huy, điều hành, thông báo, báo động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhất là khi có tình huống lũ quét, sạt lở đất trên biên giới và vụ việc TKCN trên biển.
- Lực lượng nòng cốt, xung kích còn mỏng, năng lực không đồng đều, hoạt động chưa chuyên nghiệp; việc xây dựng, củng cố lực lượng xung kích ở một số địa phương, đơn vị còn hình thức, chưa bảo đảm số lượng, chất lượng, hoạt động chưa thường xuyên, huy động thực hiện nhiệm vụ có lúc chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao.
- Thực hiện phương châm “4 tại chỗ” có mặt còn hạn chế; sự phối hợp giữa lực lượng nòng cốt của tỉnh (Quân sự, Công an, BĐBP...) với các địa phương và lực lượng chuyên trách của Trung ương có nội dung hiệu quả không cao; kết quả thực hiện nhiệm vụ ở nhiều ngành, địa phương chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn; hợp tác trao đổi thông tin, tuyên truyền, tập huấn, diễn tập với chính quyền và lực lượng chức năng 2 bên biên giới chưa thường xuyên; phương tiện, vật tư, trang thiết bị thiếu về số lượng, chủng loại, đặc biệt là các loại chuyên dụng về phòng cháy chữa cháy (PCCC), TKCN trên biển và sông, suối biên giới.
- Công tác khảo sát, đánh giá tác động của thiên tai đối với từng địa bàn, từng loại hình thiên tai chưa cụ thể; một số chương trình, dự án phát triển KT-XH kết hợp với PCTT chậm tiến độ. Quy hoạch, xây dựng các công trình lưỡng dụng trong phát triển KT-XH kết hợp với PCTT-TKCN và đảm bảo QP-AN trên địa bàn biên giới, vùng biển, đảo còn hạn chế, nhất là trên biên giới đất liền.
- Công tác kiểm tra, đôn đốc, xử lý vi phạm về đê điều, ƯPSCTT-TKCN chưa quyết liệt, nhất là xử lý trong lĩnh vực bảo vệ công trình PCTT, đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ môi trường.
a) Khách quan
- Do tác động của biến đổi khí hậu, tình hình thiên tai diễn biến phức tạp, khó lường, không theo quy luật, khó dự báo trước; phạm vi vùng biển rộng, địa hình biên giới vùng sâu, vùng xa, khó khăn, phức tạp, dễ bị tổn thương, chia cắt, cô lập.
- Cơ sở hạ tầng chưa phát triển, khả năng chống chịu thiên tai còn thấp; tần suất, quy mô, mức độ tàn phá của thiên tai ngày càng nghiêm trọng; kinh tế, đời sống, nhận thức của nhân dân còn nhiều khó khăn, phong tục, tập quán nhiều địa phương còn lạc hậu.
- Tổ chức bộ máy chỉ đạo, điều hành còn bất cập, lực lượng nòng cốt, xung kích làm nhiệm vụ thiếu về số lượng, chưa bảo đảm chất lượng, chủ yếu là kiêm nhiệm; một số địa phương chưa có cán bộ chuyên môn, cán bộ làm công tác tham mưu chưa được đào tạo cơ bản, chuyên sâu.
- Phương tiện, vật tư, trang bị kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, còn lạc hậu, chưa đồng bộ, chưa phù hợp với từng loại hình thiên tai, trên từng địa bàn, đặc biệt là phương tiện hiện đại, chuyên dụng, gây khó khăn cho việc tiếp cận hiện trường và ứng cứu. Cơ sở sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, công cụ hỗ trợ, cơ sở dữ liệu phục vụ dự báo, cảnh báo thiếu về số lượng, chưa đảm bảo chất lượng, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, gây khó khăn cho công tác chỉ đạo, điều hành triển khai ứng phó của các cấp, nhất là việc cảnh báo lũ quét, sạt lở đất.
b) Chủ quan
- Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý công tác ƯPSCTT-TKCN của người đứng đầu một số cấp ủy Đảng, chính quyền, đơn vị chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm; công tác kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên, còn hình thức. Năng lực quản lý, điều hành ở một số địa phương, đơn vị cơ sở còn nhiều bất cập; lực lượng xung kích địa phương chưa được kiện toàn thường xuyên, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ chưa sát với tình hình thực tế, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đạt chưa cao.
- Việc quan tâm đầu tư, nâng cao năng lực cộng đồng, vận động thực hiện “4 tại chỗ” còn hạn chế. Một bộ phận người dân còn chủ quan, chưa tự giác chấp hành pháp luật, sự quản lý, điều hành của chính quyền; ngư dân chưa đảm bảo đủ thiết bị an toàn, không hợp tác với cơ quan chức năng gây khó khăn cho việc thu thập, xử lý thông tin và ứng cứu khi có tình huống.
- Công tác phối hợp tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập ƯPSCTT-TKCN của nhiều sở, ngành, địa phương chưa được triển khai thường xuyên, chưa sát thực tế, đặc biệt là diễn tập thực hành xử lý các tình huống sự cố, thiên tai phức tạp.
- Quá trình triển khai thực hiện một số chương trình, kế hoạch, dự án phát triển KT-XH làm thay đổi địa hình, dòng chảy, giảm độ che phủ của rừng, ô nhiễm môi trường..., gia tăng nguy cơ xảy ra sự cố, rủi ro, thiên tai.
- Một số đơn vị, địa phương chưa quyết liệt trong điều tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực ƯPSCTT-TKCN, chế tài chưa đủ mạnh để bảo đảm tính răn đe; chế độ, chính sách đảm bảo cho lực lượng nòng cốt, xung kích tại chỗ chưa được quan tâm đúng mức, chưa thu hút được nguồn lực tại chỗ từ cộng đồng; công tác thi đua khen thưởng có thời điểm chưa kịp thời.
- Cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị, kinh phí phục vụ PCTT-TKCN chưa được quan tâm đúng mức; nguồn lực hỗ trợ của Trung ương và nguồn lực của địa phương các cấp chưa đáp ứng so với nhu cầu; nhiều cơ sở hạ tầng thiết yếu cần được tu bổ, nâng cấp, nhưng chưa được cân đối bố trí nguồn lực thực hiện.
1. Về chủ trương, quan điểm của Đảng, Tỉnh ủy Nghệ An
- Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai;
- Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30/8/2022 của Bộ Chính trị về Phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo;
- Kế hoạch số 51-KH/TU ngày 27/7/2021 của Tỉnh ủy về thực hiện Kết luận số 02-KL/TW ngày 18/5/2021 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 47- CT/TW của Ban Bí thư khóa XI về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy;
- Kế hoạch số 137-KH/TU ngày 23/11/2022 của Tỉnh ủy về triển khai thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 30/8/2022 của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
2. Về chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019;
- Luật Phòng, chống thiên tai ngày 19/6/2013; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều ngày 17/6/2020; Luật khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13 ngày 23/11/2015;
- Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 ngày 20/6/2023;
- Nghị định số 30/2017/NĐ-CP ngày 21/3/2017 của Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn;
- Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều.
- Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 01/3/2023 của Chính phủ về ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo;
- Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 18/6/2018 của Chính phủ về công tác PCTT;
- Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 13/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng tránh lũ quét và sạt lở đất;
- Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia PCTT đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 18/2021/QĐ-TTg ngày 22/4/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo, truyền tin thiên tai và cấp độ rủi ro thiên tai; Quyết định số 12/2021/QĐ-TTg ngày 24/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu;
- Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 23/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo;
- Quyết định số 08/2020/QD-TWPCTT ngày 27/3/2020 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai ban hành hướng dẫn xây dựng và củng cố Đội xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã;
- Quyết định số 217/QĐ-UBQGƯPSCTT&TKCN ngày 16/4/2020 của của Ủy ban Quốc gia ƯPSCTT&TKCN về việc ban hành Kế hoạch ứng phó cấp quốc gia về tai nạn tàu thuyền trên biển;
- Quyết định số 24/QĐ-UBQGƯPSCTT&TKCN ngày 04/3/2021 của Ủy ban Quốc gia ƯPSCTT&TKCN ban hành Kế hoạch công tác của Ủy ban Quốc gia ƯPSCTT&TKCN 05 năm (2021-2025);
- Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 25/9/2022 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khí tượng thủy văn.
- Quyết định số 934/QĐ-BQP ngày 13/3/2024 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Đồ án phát triển, nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 thuộc lĩnh vực Bộ Quốc phòng quản lý;
- Thông tư số 85/2020/TT-BTC ngày 01/10/2020 của Bộ Tài chính quy định việc quản lý sử dụng kinh phí phục vụ hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai và Ban Chỉ huy PCTT-TKCN các cấp;
- Kế hoạch số 444/KH-UBND ngày 05/8/2020 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai trên địa bàn tỉnh Nghệ An;
- Kế hoạch số 140/KH-UBND ngày 22/3/2021 của UBND tỉnh về triển khai thi hành Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24/11/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCCC và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCCC;
- Kế hoạch số 56/KH-UBND ngày 01/02/2023 của UBND tỉnh về triển khai, thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 03/01/2023 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác PCCC trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh Nghệ An;
- Kế hoạch số 280KH-UBND ngày 22/4/2023 của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 01/3/2023 của Chính phủ về ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 22-NQ-TW của Bộ Chính trị về phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo;
- Kế hoạch số 574/KH-UBND ngày 18/7/2024 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 23/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng thủ dân sự đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
III. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH ĐỀ ÁN
Thiên tai đang là nguy cơ lớn đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Trong những năm qua, diễn biến thiên tai và thời tiết ở nước ta ngày càng có nhiêu bất thường và phức tạp hơn. Bình quân mỗi năm, thiên tai đã làm chết và mất tích khoảng 500 người, bị thương hàng nghìn người, thiệt hại về kinh tế từ 1,0 - 1,5% GDP, tác động tiêu cực đến môi trường, đời sống, sản xuất của Nhân dân và sự phát triển bền vững đất nước. Đặc biệt là thời gian gần đây, các tỉnh miền Trung và miền núi phía Bắc đã xảy ra trên 300 trận lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt với quy mô, phạm vi ngày càng lớn để lại hậu quả hết sức nặng nề.
Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã tập trung nhiều nguồn lực để thực hiện các giải pháp phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai như: Đầu tư công trình PCTT; tăng cường công tác dự báo, cảnh báo thiên tai; tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, nâng cao năng lực ứng phó của lực lượng trong PCTT... Sự đầu tư đó kết hợp với đóng góp của người dân, cộng đồng đã góp phần hạn chế được thiệt hại do thiên tai gây ra, nhất là về số người chết và mất tích.
KVBG, vùng biển tỉnh Nghệ An vừa dài, vừa rộng, tính chất địa hình rất phức tạp. Đây là những địa bàn trọng điểm, dễ tổn thương và thường xuyên gánh chịu nhiều hậu quả thiên tai, sự cố, chiếm khoảng 70% tổng số vụ việc xảy ra trong toàn tỉnh. Từ năm 2020-2024, đã xảy ra và chịu ảnh hưởng của 72 trận thiên tai (Bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ), lũ ống, lũ quét, ngập lụt, mưa lớn, mưa đá, giông, lốc sét...) và các loại hình thiên tai khác. Hậu quả: Xảy ra 426 vụ thiên tai, tai nạn trên biển; làm chết 83 người, mất tích 21 người, bị thương 92 người; chìm 37 phương tiện, cháy 17 phương tiện, hư hỏng 123 phương tiện, hư hỏng 12.723 nhà và trên 100 nghìn ha hoa màu hư hỏng. Trước tình hình trên, cấp ủy, chính quyền, các lực lượng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiêu chủ trương, biện pháp phòng chống, ứng phó, giảm nhẹ thiệt hại do sự cố, thiên tai gây ra. Về cơ bản đã phát huy tốt sức mạnh tổng hợp và phương châm “4 tại chỗ”, từng bước xây dựng xã hội an toàn, thích ứng với thiên tai, đảm bảo phát triển KT-XH và QP-AN trên địa bàn KVBG, vùng biển. Tuy nhiên, công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN và khắc phục hậu quả trong KVBG, vùng biển vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn, bất cập về nguồn lực và phương châm “4 tại chỗ”, tổ chức bộ máy, cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, lực lượng, phương tiện, trang bị, chế độ chính sách, cơ chế phối hợp và kinh phí đảm bảo ... Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn lực cho công tác PCTT có thời điểm chưa hiệu quả, khi thiên tai xảy ra mới tập trung ứng phó và khắc phục thiệt hại; một số địa phương, nhất là cấp xã và các tổ chức, cá nhân chưa tự giác tham gia và thiếu chủ động trong các hoạt động PCTT.
Dự báo thời gian tới, tình hình thời tiết, khí hậu sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, cực đoan và khó lường, nhất là ở KVBG, vùng biển. Bão, ATNĐ, mưa đá, ngập lụt, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá, động đất, sóng thần, dịch bệnh, nước biển dâng; tai nạn đâm va, cháy, chìm tàu thuyền, sự cố môi trường, cháy nổ, cháy rừng, sập đổ công trình, tràn dầu, ngạt khí hầm lò, tai nạn đường bộ, đường biển... sẽ tiếp tục xảy ra với mức độ và hậu quả nghiêm trọng hơn. Yêu cầu đặt ra đối với công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN là phải có sự chuyển biến sâu sắc, toàn diện về mọi mặt để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Do đó, việc xây dựng và triển khai thực hiện Đề án "Nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên KVBG, vùng biển tỉnh Nghệ An giai đoạn 2025-2030" là thực sự cần thiết, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người, tài sản, đảm bảo an ninh, an toàn cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH và củng cố QP-AN trong tình hình mới.
a) Phạm vi thực hiện Đề án
Địa bàn KVBG 27 xã biên giới đất liền thuộc 06 huyện biên giới (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Thanh Chương, Quế Phong) và 28 xã, phường biên giới ven biển thuộc 05 huyện, thị xã khu vực biên giới biển (Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò (thành phố Vinh) và Hoàng Mai) và vùng biển, đảo tỉnh Nghệ An.
b) Địa bàn, khu vực trọng điểm
- Lũ ống, lũ quét và sạt lở đất, đá:
+ Huyện Quế Phong: Địa bàn các xã Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm Giải, Tri Lễ.
+ Huyện Tương Dương: Địa bàn các xã Nhôn Mai, Mai Sơn, Tam Hợp, Tam Quang.
+ Huyện Kỳ Sơn: Địa bàn các xã Nậm Cắn, Tà Cạ, Mường Típ, Mường Ải, Na Ngoi, Nậm Càn, Mỹ Lý, Bắc Lý, Keng Đu, Na Loi, Đọoc Mạy.
+ Huyện Con Cuông: Địa bàn các xã Châu Khê, Môn Sơn.
+ Huyện Anh Sơn: Địa bàn xã Phúc Sơn.
+ Huyện Thanh Chương: Đại bàn các xã Ngọc Lâm, Thanh Đức, Thanh Sơn, Hạnh Lâm, Thanh Thủy.
(Theo thống kê trên địa bàn 27 xã biên giới, thuộc 06 huyện biên giới đất liền hiện có 1.363 hộ dân đang sinh sống trong vùng nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất - có phụ lục kèm theo).
- Ngập lụt do mưa, bão, vỡ đê, nước biển dâng:
+ Bản Pục, bản Phòng, bản Mờ/xã Nậm Giải, bản Long Thắng/xã Hạnh Dịch/huyện Quế Phong;
+ Làng Nhùng, Bãi Xa, Bãi Sở, Làng Mỏ/xã Tam Quang/huyện Tương Dương;
+ Bản Thái Sơn, Khe Mọi/xã Môn Sơn/huyện Con Cuông.
+ Xã Hạnh Lâm, Thanh Sơn/huyện Thanh Chương;
+ Thôn Tân Minh, Đồng Minh, Đồng Thanh/xã Quỳnh Lập, Khối Thân Ái, Tân Phong/phường Quỳnh Phương, thôn Bình Minh, Đại Đồng/xã Quỳnh Liên/thị xã Hoàng Mai;
+ Xã Tiến Thủy, Quỳnh Long, Quỳnh Bảng, Quỳnh Thọ, Sơn Hải/huyện Quỳnh Lưu;
+ Xóm 6/xã Diễn Thành, xóm Đông Lập /xã Diễn Ngọc/huyện Diễn Châu;
+ Khối 1 /phường Nghi Tân/thị xã Cửa Lò (thành phố Vinh).
- Sự cố, thiên tai, tai nạn, đâm va, chìm đắm tàu thuyền trên sông, trên biển:
+ Tuyến khơi: Đông Hòn Mắt; Đông Nam Hòn Mê.
+ Ven bờ: Luồng vào các cửa sông lớn. Ngư trường trọng điểm: Khu vực vịnh Diễn Châu, Cồn Khơi, Hòn Lạp - vùng biển Cửa Lò.
- Tai nạn rủi ro: Các khu, điểm du lịch ven biển, sông, suối, đò ngang.
- Sự cố tràn dầu, hóa chất, ô nhiễm môi trường, cháy nổ: Vùng biển thị xã Cửa Lò, huyện Nghi Lộc, các khu du lịch, khu công nghiệp, nhà máy, cảng cá, âu tránh bão, cơ sở kinh doanh, vận chuyển xăng dầu và các xã, phường ven biển.
- Cháy rừng:
+ Xã Quỳnh Lập/thị xã Hoàng Mai;
+ Xã Tiến Thủy, Quỳnh Thuận/huyện Quỳnh Lưu;
+ Xã Diễn Trung/huyện Diễn Châu;
+ Xã Nghi Thiết/huyện Nghi Lộc;
+ Xã Mỹ Lý, Bắc Lý, Keng Đu, Mường Típ, Mường Ải, Nậm Càn/huyện Kỳ Sơn;
+ Xã Tam Hợp, Tam Quang, Mai Sơn, Nhôn Mai/huyện Tương Dương;
+ Xã Phúc Sơn/huyện Anh Sơn;
+ Xã Thanh Sơn, Hạnh Lâm, Thanh Thủy/huyện Thanh Chương.
2.2. Thời gian thực hiện: Từ năm 2025 đến hết năm 2030.
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1. Mục tiêu chung
Đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho người dân trước diễn biến phức tạp của thiên tai; nâng cao nhận thức, năng lực ứng phó, phòng chống thiên tai, TKCN cho cán bộ, nhân dân, trên khu vực biên giới, vùng biển của tỉnh; góp phần giảm thiểu thiệt hại về người, tài sản do sự cố, thiên tai gây ra, kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo QP-AN, bảo vệ quyền, quyền chủ quyền trên vùng biển của tỉnh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Tranh thủ tối đa các nguồn lực đầu tư cho hoạt động phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN đảm bảo đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tế trên KVBG, vùng biển của tỉnh Nghệ An. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong hoạt động ƯPSCTT-TKCN.
2. Mục tiêu cụ thể
- Giai đoạn 2025 - 2027:
+ Hàng năm, có khoảng 85% cán bộ, nhân dân KVBG, ven biển trở lên được tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật, kinh nghiệm và kỹ năng phòng chống, ƯPSCTT-TKCN.
+ Xây dựng, hoàn thiện cơ chế phối hợp, kế hoạch, phương án phòng ngừa, ứng phó cụ thể sát với từng loại hình sự cố, thiên tai thường xảy ra trên từng địa bàn, khu vực trọng điểm, dễ tổn thương; 100% Ban Chỉ huy PCTT- TKCN&PTDS cấp xã biên giới, ven biển được kiện toàn đảm bảo số lượng, chất lượng hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
+ Đảm bảo 100% các huyện, thị xã biên giới, ven biển thành lập 01 Đội Thường trực PCTT-TKCN (nòng cốt là Đồn Biên phòng, Ban Chỉ huy Quân sự và Công an huyện). Ngoài ra, mỗi huyện, thị xã ven biển thành lập thêm 01 Đội tàu TKCN trên biển (từ 07-10 tàu) nòng cốt là lực lượng các Đồn Biên phòng, Hải đội 2 Biên phòng, Trung đội Dân quân biển và Tổ tàu thuyền đoàn kết.
+ 100% Đội xung kích PCTT-TKCN cấp xã biên giới, ven biển được củng cố, kiện toàn hoạt động hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
+ 100% cán bộ các xã biên giới, ven biển làm công tác quản lý, chỉ huy, tham mưu và lực lượng nòng cốt, xung kích (Đội Cơ động nhanh PCTT-TKCN, Đội xung kích PCTT cấp xã, Đội tàu TKCN trên biển) được tập huấn, huấn luyện, diễn tập về công tác phòng chống, ƯPSCTT-TKCN.
- Giai đoạn 2028 - 2030:
+ Đảm bảo đủ các loại trang bị thiết yếu cho lực lượng nòng cốt, xung kích: Đội Cơ động nhanh, Đội Thường trực, Đội xung kích PCTT và Đội tàu TKCN trên biển.
+ Trang cấp, bổ sung các loại phương tiện, vật tư, trang bị thiết yếu cho các Đồn Biên phòng, Quân sự, Công an để nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai, TKCN trong KVBG, vùng biển của tỉnh.
+ Chú trọng lồng ghép quy hoạch, kế hoạch các dự án, đề án, chương trình phát triển KT-XH với xây dựng công trình PCTT-TKCN và PTDS; hoàn thành sắp xếp ổn định dân cư đang sinh sống trong khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại các xã biên giới đất liền và hoàn thành quy hoạch, xây dựng, nâng cấp các cảng cá, khu neo đậu, âu tránh trú bão cho tàu thuyền tại các huyện, thị xã ven biển.
- Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, quy chế, chính sách trong hoạt động ƯPSCTT và TKCN.
- Kiện toàn tổ chức, đầu tư trang thiết bị, vật chất chuyên dụng cho lực lượng chuyên trách thực hiện nhiệm vụ ƯPSCTT và TKCN ở các xã, phường KVBG, ven biển.
- Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, theo dõi thiên tai; thiết lập hệ thống thông tin phục vụ chỉ huy, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ ƯPSCTT- TKCN trên biên giới, vùng biển, đảo thông suốt, kịp thời trong mọi tình huống. Tham mưu đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, công cụ hỗ trợ, nâng cao năng lực Ban Chỉ huy PCTT-TKCN&PTDS các xã biên giới, ven biển. Tăng cường hoạt động thông tin truyền thông, hướng dẫn kỹ năng phòng ngừa, ứng phó với các loại hình thiên tai phổ biến (nhất là bão, mưa lũ, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất...), bảo đảm thông tin về thiên tai đến được người dân tại các khu vực chịu ảnh hưởng, nhất là ở KVBG.
- Rà soát, kiện toàn Đội xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã, đây là lực lượng nòng cốt trong thực hiện phương châm “4 tại chỗ”, là lực lượng phản ứng nhanh, kịp thời xử lý các tình huống về PCTT ngay tại cơ sở.
- Tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập nâng cao trình độ chỉ huy, khả năng phối hợp cho Đội Cơ động nhanh, Đội Thường trực, Trung đội dân quân cơ động, Đội xung kích PCTT, Đội tàu TKCN trên biển, Tổ tàu thuyền đoàn kết, Tổ thường trực PCCCR để nâng cao năng lực ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN trên KVBG, vùng biển.
- Làm tốt công tác sơ, tổng kết rút kinh nghiệm về PCTT-TKCN. Xây dựng, nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến, kịp thời biểu dương gương người tốt, việc tốt trong công tác PCTT-TKCN và xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về PCTT.
- Các cấp ủy, tổ chức Đảng xác định công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Quán triệt sâu sắc quan điểm chủ động phòng ngừa là chính, kết hợp với các biện pháp thích ứng phù hợp, tôn trọng quy luật tự nhiên, thay đổi tư duy phát triển, bảo đảm phát triển bền vững.
- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc phân công, phân cấp, xác định rõ trách nhiệm, đặc biệt là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai theo phương châm “4 tại chỗ” (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ; hậu cần tại chỗ) gắn với xây dựng cộng đồng an toàn.
- Chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, tạo sự thống nhất trong cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và toàn xã hội cả về nhận thức và hành động trước tình hình và tác động tiêu cực, phức tạp của thiên tai. Nâng cao kiến thức, năng lực cho lãnh đạo, cán bộ, đảng viên các cấp, nhất là ở cơ sở có trách nhiệm thông tin, hướng dẫn kỹ năng nhận biết và cách thức ứng phó thiên tai cho cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng dễ bị tổn thương.
2.2. Đẩy mạnh công tác giáo dục và phổ biến pháp luật
- Tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp đổi mới hình thức, nội dung, phương pháp tuyên truyền, tập huấn, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTT, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu cho cán bộ, nhân dân phù hợp với đặc điểm dân cư biên giới, điều kiện sản xuất, sinh hoạt của từng địa phương, đơn vị thông qua: Tổ chức hội nghị, hội thi, phát thanh, truyền hình, gửi văn bản, ký cam kết, phát tờ rơi, tờ gấp pháp luật, gắn panô, áp phích, cấp băng đĩa, vật mang tin, đăng trên mạng xã hội Zalo, Facebook.
- Tăng cường phổ biến kinh nghiệm, biện pháp phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN và tham gia khắc phục hậu quả; nâng cao ý thức, phát huy tính chủ động, tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ nhau khi gặp thiên tai, sự cố. Đối với ngư dân hành nghề trên biển trang bị đầy đủ dụng cụ cứu sinh, thông tin liên lạc, thiết bị giám sát hành trình, kỹ năng ứng phó, xử lý các tình huống để tự bảo vệ mình; đối với nhân dân biên giới đất liền nắm vững kỹ năng, kinh nghiệm phát hiện lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, cháy rừng, cách thông báo truyền tin khi có thiên tai, đảm bảo an toàn khi qua sông, suối, không vớt củi trên sông khi có mưa lũ, không phá rừng làm nương rẫy.
- Các sở, ngành, địa phương thống nhất biên soạn đề cương, tài liệu tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, điều ước quốc tế, kinh nghiệm, kỹ năng phòng tránh sự cố, thiên tai, CNCH, bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, xây dựng xã hội ổn định trong thiên tai phục vụ tuyên truyền và cấp phát cho nhân dân; phối hợp với các trường, trung tâm dạy nghề lồng ghép nội dung giáo dục về PCTT-TKCN vào chương trình giảng dạy.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân thường xuyên vận động tập hợp lực lượng, đặc biệt là lực lượng xung kích PCTT tại cơ sở; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, giáo dục cập nhật kiến thức, kỹ năng, nâng cao nhận thức, năng lực, tính chủ động cho đoàn viên, hội viên và nhân dân về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố, thiên tai; huy động và phân bổ nguồn lực cứu trợ phù hợp; phối hợp với các cơ quan truyền thông giới thiệu, nhân rộng các mô hình người tốt, gương điển hình trong công tác PCTT-TKCN.
- Đa dạng hóa việc huy động nguồn lực và sử dụng hiệu quả nguồn lực theo phân cấp, đúng thẩm quyền. Bố trí nguồn chi ngân sách chính đáng, kết hợp xã hội hóa các nguồn lực hợp pháp để chủ động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Phát huy vai trò, trách nhiệm của bộ máy quản lý chuyên ngành trong huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực. Kết hợp sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và nước ngoài để thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình tổng thể, dự án phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN.
- Hàng năm, ưu tiên bố trí ngân sách tập trung xử lý dứt điểm các trọng điểm đê điều, sạt lở bờ sông, xâm thực bờ biển, hồ đập, luồng lạch, âu tránh bão. Lập quy hoạch, kế hoạch, phương án di dời dân đang sinh sống trong vùng thiên tai gắn với sinh kế bền vững. Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cơ quan chuyên môn, tham mưu phục vụ chỉ đạo, điều hành công tác ƯPSCTT-TKCN các cấp, nhất là cơ quan cấp tỉnh, các đơn vị nòng cốt theo hướng hiện đại ngang tầm nhiệm vụ. Bố trí nguồn lực phục vụ công tác điều tra cơ bản, triển khai các chương trình trọng điểm cấp tỉnh về ứng dụng khoa học, công nghệ trong phòng ngừa, ứng phó sự cố, khắc phục hậu quả thiên tai và TKCN.
- Rà soát, sắp xếp thứ tự ưu tiên, từng bước đầu tư xây dựng, nâng cao khả năng chống chịu thiên tai của hệ thống kết cấu hạ tầng; làm tốt công tác bảo vệ, phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ, đầu nguồn và rừng ngập mặn. Đối với biên giới đất liền bảo đảm an toàn nơi ở cho đồng bào, tăng cường quản lý, kiểm soát không để người dân làm nhà lấn chiếm lòng sông, suối, chân núi, đồi, khu vực rủi ro, giảm nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất; bảo đảm an toàn đê điều, hồ chứa nguồn nước sản xuất, sinh hoạt và an ninh rừng. Đối với biên giới biển, đảo nâng cao năng lực quản lý người, phương tiện hoạt động trên biển, sẵn sàng ứng phó với bão mạnh, siêu bão, sạt lở bờ biển, sạt lở bờ sông, nước biển dâng, xâm nhập mặn và sụt lún đất.
2.4. Tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn cho nhân dân
- Thường xuyên rà soát xây dựng, bổ sung và triển khai đầy đủ các kế hoạch, phương án phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN, đảm bảo an ninh, an toàn cho nhân dân, bảo vệ cơ sở hạ tầng để phát triển KT-XH.
- Nắm chắc diễn biến tình hình sự cố, thiên tai, mưa lũ, ngập lụt, bão, ATNĐ, sạt lở đất, cháy rừng..., áp dụng phương tiện công nghệ để dự báo, thông báo, cảnh báo sớm, kết hợp với sử dụng mạng thông tin tín hiệu cồng, chiêng, còi, kẻng báo động, truyền tin cho người dân biết phòng tránh; tổ chức tiếp nhận, xử lý kịp thời hiệu quả thông tin liên quan đến công tác PCTT - TKCN.
- Khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng các tổ chức, cá nhân đang sinh sống trong khu vực nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất để lập phương án, đề án di dời đến nơi an toàn bảo đảm sinh kế ổn định lâu dài cho người dân.
- Ưu tiên quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa biên giới, nhất là hạ tầng giao thông, không để các địa bàn trọng điểm thiên tai có 01 tuyến đường độc đạo; xây dựng các công trình tránh lũ tập trung tại các địa bàn trọng điểm, tăng cường các loại vật tư, phương tiện kỹ thuật đáp ứng yêu cầu ƯPSCTT-TKCN.
- Làm tốt công tác điều tra cơ bản, quản lý, kiểm soát chặt chẽ người, phương tiện, nắm chắc chủ tàu, thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên, thủ tục, nghề, ngư cụ, ngư trường, thời gian xuất, nhập bến, máy thông tin, tần số, giám sát hành trình, trang bị cứu sinh, thiết bị an toàn làm cơ sở kiểm tra, xử lý vi phạm. Đào tạo cấp bằng, chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng, đăng ký, đăng kiểm theo hướng cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện phát triển ngành kinh tế thủy sản.
- Duy trì có hiệu quả Đài thông tin báo bão của Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Đài TTDH Bến Thủy để thu thập, xử lý thông tin về sự cố, thiên tai, tai nạn và kêu gọi, hướng dẫn tàu thuyền tránh trú khi có thiên tai. Nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thông tin chỉ huy, điều hành PCTT-TKCN và thông tin nghề cá; có chính sách hỗ trợ trang thiết bị an toàn, giám sát hành trình cho ngư dân, nhất là Dân quân biển, Đội tàu TKCN trên biển và Tổ tàu thuyền đoàn kết; duy trì nghiêm các quy định về đảm bảo an toàn đối với người, phương tiện trên biên giới, vùng biển.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với mọi hoạt động trên biên giới, vùng biển, nhất là khu đông dân cư; bên đậu, vùng triều, đò ngang và ngư trường; không cho tàu cá hoạt động nếu thiếu thủ tục, trang thiết bị an toàn và khi có lệnh cấm biển của cơ quan có thẩm quyền; kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định.
- Đầu tư xây dựng các Trạm đo mưa; lắp đặt thiết bị cảnh báo lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt, lũ trên sông, suối xuyên biên giới và nguy cơ cháy rừng.
- Kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về PCTT-TKCN từ tỉnh đến cơ sở theo hướng đồng bộ, thống nhất, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả, trên cơ sở sắp xếp lại các tổ chức hiện có, bảo đảm tinh gọn, không tăng thêm đầu mối và biên chế, có cơ chế hoạt động cụ thể, xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực thi nhiệm vụ PCTT-TKCN.
- Phân công trách nhiệm, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng quân đội, công an, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúng để phối hợp xây dựng kế hoạch, phương án, kịch bản phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm khả thi, thiết thực, sát thực tiễn.
- Thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực chỉ huy, điều hành, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, tham mưu các cấp. Nâng tầm hoạt động của cơ quan PCTT - TKCN và PTDS các cấp theo hướng chuyên trách, trên cơ sở sắp xếp lại tổ chức bộ máy hiện có, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, có năng lực, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng hiện có tại các cấp, các ngành để củng cố, kiện toàn, bổ sung nguồn lực, trang bị thiết yếu. Chú trọng củng cố, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt TKCN cấp tỉnh và lực lượng xung kích PCTT cấp xã. Từng bước nâng cao năng lực, kỹ năng và các điều kiện bảo đảm để thực thi kịp thời, xử lý linh hoạt các tình huống sự cố, thiên tai theo phương châm "4 tại chỗ" phù hợp với các lĩnh vực của từng ngành, từng lực lượng, vùng, miền và từng địa phương.
- Tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập nâng cao trình độ chỉ huy, khả năng phối hợp cho Đội Cơ động nhanh, Đội Thường trực, Trung đội dân quân cơ động, Đội xung kích PCTT, Đội tàu TKCN trên biển, Tổ tàu thuyền đoàn kết, Tổ thường trực PCCCR đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Lực lượng Quân sự, Công an, BĐBP báo cáo Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Bộ Công an, Bộ Tư lệnh BĐBP cấp bổ sung vật tư, phương tiện, phấn đấu đến năm 2025, cơ bản đáp ứng các loại phương tiện, trang bị, vật tư thiết yếu. Các đơn vị biên phòng tuyến biển có tàu tuần tra và TKCN công suất từ 1.000 CV đến 7.000 CV; đơn vị tuyến biên giới cơ bản có phương tiện, trang bị đặc dụng, nhất là phương tiện, trang bị ứng phó với lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt và PCCCR.
- Tăng cường cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật và năng lực thực thi nhiệm vụ cho BĐBP tỉnh theo Nghị Quyết số 58-NQ/TW ngày 05/8/2020 của Bộ Chính trị. Trang bị cơ bản đầy đủ cơ sở vật chất, phương tiện thiết yếu cho lực lượng nòng cốt, xung kích của các đơn vị, địa phương phù hợp với đặc diêm địa hình biên giới, vùng biển và từng loại hình thiên tai. Bảo đảm cơ chế, chính sách, kinh phí cho lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ, nhằm thu hút nguồn lực tại chỗ. Trong đó, các đơn vị, địa phương có trách nhiệm bảo đảm nguồn lực và điều kiện hoạt động cho cơ quan, lực lượng làm công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN cùng cấp, đặc biệt là lực lượng xung kích PCTT ở cơ sở.
- Đề cao trách nhiệm người đứng đầu, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn khắc phục những hạn chế, yếu kém, chủ quan đơn giản trong chỉ đạo điều hành và triển khai thực hiện nhiệm vụ; kịp thời khen thưởng và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
2.6. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng và hợp tác quốc tế
- Duy trì thực hiện tốt quy chế, kế hoạch phối hợp giữa các lực lượng Quân sự, BĐBP, Công an và các ngành Nông nghiệp, Công thương, Y tế, Giao thông vận tải, Thông tin và Truyền thông trong công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN trên KVBG, vùng biển.
- Phối hợp với Ủy ban Quốc gia ƯPSCTT-TKCN, Bô Tư lệnh Quân khu 4, UBND các tỉnh Thanh Hoá, Hà Tĩnh... trong công tác nắm tình hình, trao đổi thông tin và thực hiện công tác ƯPSCTT-TKCN.
- Lực lượng Quân sự, BĐBP, Công an và các ngành liên quan xây dựng, bổ sung và thực hiện tốt quy chế, kế hoạch phối hợp với lực lượng chuyên trách của Trung ương (Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải Việt Nam, Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải khu vực I, Trung tâm phối hợp TKCN Hàng không, Trung tâm ƯPSCTD khu vực miền Bắc), Hải quân Vùng I, Vùng Cảnh sát biển I, Hải đoàn 38 BĐBP, Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, Chi cục Kiểm ngư, các Đài TTDH và các đơn vị của Bộ đóng quân trên địa bàn để nắm, trao đổi tình hình và xử lý tình huống; tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, diễn tập các kế hoạch, phương án đảm bảo an ninh, an toàn cho nhân dân; kết hợp tuần tra bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ với sẵn sàng tham gia ƯPSCTT-TKCN và PCCCR khi có tình huống.
- Phối hợp trao đổi thông tin với chính quyền tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay/Lào và các tỉnh Thanh Hoá, Hà Tĩnh trong các hoạt động xây dựng, vận hành xả lũ của các nhà máy thủy điện trên thượng nguồn sông Nậm Mô, Nậm Nơn, bảo đảm an toàn cho các vùng hạ lưu trên địa bàn tỉnh.
- Các Sở, ngành (Quân sự, BĐBP, Công an, Nông nghiệp...), UBND các huyện biên giới xây dựng, ký kết và thực hiện có hiệu quả các quy chế, kế hoạch, chương trình phối hợp PCTT, PCCCR, CNCH với lực lượng chức năng và chính quyền các huyện biên giới tiếp giáp của tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay/Lào; tổ chức hội đàm, giao ban trao đổi, thông báo tình hình về sự cố, thiên tai (mưa lũ, sạt lở đất, cháy rừng, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh...), trong đó, chú trọng trao đổi về công tác quy hoạch, kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình, dự án phát triển KT-XH, vận hành xả lũ các nhà máy thủy điện (đập thủy điện, dự án khai thác tài nguyên, khoáng sản...) trên KVBG làm gia tăng nguy cơ xảy ra lũ quệt, sạt lở đất, sự cố môi trường, sụt lún đất đá, cháy nổ, cháy rừng, mất an toàn; tổ chức tuyên truyền, tập huấn, diễn tập PCCCR, ƯPSCTT-TKCN nâng cao trình độ cho cán bộ, nhân dân 02 bên biên giới, xây dựng biên giới an toàn, hữu nghị, hội nhập và phát triển.
- Thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm với các tổ chức nước ngoài; từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý, cơ sở dữ liệu về phòng tránh rủi ro, thiên tai. Nâng cao hiệu quả hỗ trợ quốc tế về kinh phí, vật tư, phương tiện, trang thiết bị PCTT-TKCN; thực thi tốt các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
- Ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, theo dõi thiên tai kịp thời, có độ tin cậy cao làm cơ sở xây dựng các kế hoạch, phương án ứng phó; ưu tiên đầu tư nghiên cứu về thiên tai, hệ thống dự báo khí tượng thủy văn, hệ thống theo dõi, giám sát thiên tai chuyên dùng chuẩn hóa và hiện đại. Tăng cường rà soát, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng, dự báo dài hạn về thiên tai, nguồn nước, nhất là các sông, suối xuyên biên giới với nước Bạn (Lào).
- Khẩn trương thiết lập hệ thống thông tin phục vụ chỉ huy, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ ƯPSCTT-TKCN trên biên giới, vùng biển, đảo thông suốt, kịp thời trong mọi tình huống. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp độ rủi ro thiên tai phù hợp với đặc điểm sự cố, thiên tai và điều kiện từng vùng, miền.
- Xác định ứng dụng khoa học công nghệ là nhiệm vụ, giải pháp then chốt và hiệu quả trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai ưu tiên trang bị công nghệ quan trắc, theo dõi, giám sát, chỉ đạo điều hành, ứng phó thiên tai. Tập trung ứng dụng công nghệ viễn thám, tin học, tự động hóa, vật liệu mới trong quản lý, khai thác, vận hành cơ sở dữ liệu, công cụ hỗ trợ chỉ đạo điều hành. Khuyến khích các doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu đầu tư cho khoa học công nghệ, hợp tác công - tư; có bộ phận nghiên cứu chuyên sâu, mô phỏng, chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ vào phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
- Chú trọng đưa nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển KT-XH. Điều chỉnh, lồng ghép nội dung phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN vào quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển của các ngành, địa phương theo hướng kết hợp đa mục tiêu, hạn chế tối đa việc gia tăng rủi ro, thiên tai, thích ứng với đặc điểm của từng vùng, miền, nhất là vùng ven biển, các lưu vực sông suối biên giới, khu vực đông dân cư...
- Quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH, gắn với nhiệm vụ QP-AN và PCTT-TKCN; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình, dự án phát triển KT-XH KVBG, vùng biển; ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, trang bị, phương tiện cho các địa bàn trọng điểm xảy ra thiên tai.
- Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng giao thông trên KVBG đất liền, đặc biệt là giao thông kết nối giữa trung tâm các huyện biên giới với các xã và các địa bàn trọng điểm về lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt, các khu vực dễ bị chia cắt, cô lập khi có thiên tai, tránh để các đường độc đạo; hoàn thành việc sắp xếp ổn định dân cư đang sinh sống trong khu vực nguy cơ cao lũ quét, sạt lở đất; tăng cường phát triển rừng và bảo vệ môi trường.
- Trên KVBG biển, xây dựng các bến cập tàu phục vụ nhiệm vụ kiểm soát biên phòng kết hợp neo đậu phương tiện thực hiện nhiệm vụ PCTT-TKCN; hoàn thành việc xây dựng, nâng cấp các cảng cá, khu neo đậu, âu tránh trú bão cho tàu thuyền, phục vụ phát triển kinh tế thủy sản bền vững và tháo gỡ thẻ vàng thủy sản của Ủy ban Châu Âu EC; phát triển hạ tầng giao thông đường bộ ven biển, hệ thống cảng biển, giao thông đường thủy và ngành vận tải biển, đặc biệt là kết nối giữa trung tâm các huyện, thị xã, thành phố ven biển với các khu kinh tế, công nghiệp, du lịch phục vụ phát triển kinh tế biển, gắn với PCTT- TKCN và bảo đảm QP-AN.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan theo hướng khắc phục chồng chéo, bổ sung các quy định mới bảo đảm sự thống nhất, phù hợp, tạo môi trường pháp lý đầy đủ, khả thi, thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
- Xây dựng ban hành cơ chế, thể chế để tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành; bảo đảm chế độ, chính sách cho các tổ chức, cá nhân tham gia phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN, nhất là chính sách đặc thù cho lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ. Hoàn thiện cơ chế vận hành, sử dụng quỹ PCTT, bảo hiểm rủi ro thiên tai, dịch vụ dự báo, theo dõi, giám sát và đánh giá tác động rủi ro thiên tai.
1. Quý I/2025, quán triệt, triển khai thực hiện nội dung, nhiệm vụ Đề án theo lộ trình, kế hoạch triển khai thực hiện Đề án theo các năm đã xác định.
2. Quý III/2027, tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm thực hiện Đề án.
3. Quý IV/2030, tổ chức tổng kết Đề án, rút ra bài học kinh nghiệm, giải pháp phù hợp để tiếp tục nâng cao hiệu quả ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên KVBG, vùng biển tỉnh Nghệ An giai đoạn tiếp theo.
1. Nguồn kinh phí thực hiện Đề án từ ngân sách địa phương bố trí theo phân cấp quản lý Nhà nước và huy động từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
2. Khai thác nguồn kinh phí huy động từ các bộ, ngành (Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn...) phân cấp theo các chương trình, đề án về PCTT-TKCN đang triển khai.
3. Hằng năm, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và các đơn vị có liên quan căn cứ khả năng cân đối nguồn kinh phí về Đề án được duyệt thẩm định dự toán kinh phí thực hiện Đề án báo cáo UBND tỉnh bố trí kinh phí theo phân cấp để thực hiện theo quy định.
1. Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS tỉnh
- Tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ PCTT theo quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật Phòng, chống thiên tai và Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của Chính phủ, Luật phòng thủ dân sự và các nhiệm vụ khác do UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh giao.
- Chỉ đạo, đôn đốc xây dựng và trình phê duyệt kế hoạch, phương án và chỉ huy ứng phó thiên tai, TKCN trên địa bàn tỉnh. Tổ chức tập huấn, diễn tập, phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về PCTT.
- Giúp UBND tỉnh chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc và tổng hợp báo cáo việc thống kê đánh giá thiệt hại, xác định nhu cầu hỗ trợ, triển khai công tác khắc phục hậu quả và phục hồi tái thiết sau thiên tai theo phương châm “Chủ động phòng ngừa, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và hiệu quả”.
- Chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm từng bước nâng cao năng lực dân sự trong hoạt động ứng phó thiên tai.
- Tham mưu thực hiện có hiệu quả Quỹ phòng, chống thiên tai theo quy định.
2. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, địa phương liên quan triển khai thực hiện Đề án đảm bảo thiết thực, hiệu quả; hàng năm tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai và điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ, giải pháp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
- Chủ trì, phối hợp với các lực lượng, địa phương tham mưu UBND tỉnh thực hiện công tác phòng ngừa, ƯPSCTT-TKCN trên biên giới, vùng biển; xây dựng phương án đảm bảo an ninh, an toàn cho nhân dân tại các khu vực, địa bàn trọng điểm về thiên tai, sự cố; bổ sung hoàn thiện các phương án, kế hoạch, duy trì lực lượng, phương tiện sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ; thường xuyên tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển để hỗ trợ ngư dân sản xuất và tham gia TKCN; kiểm soát chặt chẽ công tác đảm bảo an toàn trước khi ra biển và khi có thiên tai đối với người, phương tiện, kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm.
- Phối hợp với các ngành, địa phương tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ, nhân dân nắm vững chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, PCTT-TKCN và đảm bảo QP-AN; tổ chức tập huấn, huấn luyện, diễn tập ƯPSCTT-TKCN cho Đội Cơ động nhanh, Đội Thường trực, Đội xung kích PCTT, Đội tàu TKCN trên biển, Trung đội dân quân cơ động, Tổ tàu thuyền đoàn kết, Đội tàu bảo vệ chủ quyền, Tổ thường trực PCCCR và Đội ứng phó sự cố tràn dầu.
- Hiệp đồng chặt chẽ với Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 1, Kiểm ngư, Hải đoàn 38 BĐBP, Bộ Chỉ huy BĐBP các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Bình, Trung tâm phối hợp TKCN Hàng hải khu vực 1, Trung tâm phối hợp TKCN Hàng không, Trung tâm ƯPSCTD khu vực miền Bắc, Trạm ƯPSCTD, để trao đổi thông tin, huấn luyện, diễn tập và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ.
- Tham mưu UBND tỉnh xây dựng, ký kết các kế hoạch, thỏa thuận phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng chức năng các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay/Lào trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, tập huấn, diễn tập và sẵn sàng phối hợp, hỗ trợ thực thi nhiệm vụ PCCCR, ƯPSCTT-TKCN liên quan đến 02 bên biên giới.
- Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông xây dựng phương án đảm bảo thông tin phục vụ chỉ huy, chỉ đạo xử lý các tình huống khẩn cấp về sự cố, thiên tai trên biên giới, vùng biển, đảo; phát huy hiệu quả mạng thông tin nghiệp vụ của các đơn vị biên phòng và 03 Trạm thông tin báo bão, bắn pháo hiệu cảnh báo thiên tai, để thông báo, cảnh báo và kêu gọi, hướng dẫn tàu thuyền vào nơi trú tránh an toàn.
- Chỉ đạo các Đồn Biên phòng tham mưu UBND cấp huyện, xã biên giới thực hiện tốt Đề án; rà soát các khu vực nguy cơ xảy ra rủi ro, thiên tai để có biện pháp phòng ngừa và tham mưu xử lý; phối hợp với các ngành, đoàn thể tuyên truyền nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước; tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, củng cố các mô hình PCTT-TKCN cấp huyện, xã (Đội thường trực, Đội xung kích PCTT, Trung đội Dân quân, Tổ tàu thuyền đoàn kết, Tổ thường trực PCCCR, Đội tàu TKCN trên biển); cùng với các nhà trường trên địa bàn tham gia bồi dưỡng kiến thức pháp luật, hướng dẫn kỹ năng phòng tránh sự cố, thiên tai cho học sinh để tự bảo vệ khi có tình huống.
- Hàng năm, phối hợp với Sở Tài chính tham mưu, đề xuất UBND tỉnh kinh phí thực hiện Đề án đảm bảo thiết thực, hiệu quả; thực hiện tốt Thông tư số 92/2009/TT-BTC ngày 12/5/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn thanh toán kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động TKCN, ứng phó thiên tai, thảm họa.
- Kiến nghị Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh BĐBP xây dựng hệ thống Đồn, Trạm kết hợp với các công trình PCTT cho nhân dân; trang cấp các loại phương tiện tuần tra bảo vệ biên giới, PCTT-TKCN, trang thiết bị chuyên dụng phù hợp với hoạt động TKCN trên biên giới, vùng biển, đặc biệt là tàu, xuồng TKCN trên biển; trên cơ sở trang thiết bị được trên cấp, hàng năm, căn cứ thực tế và yêu cầu nhiệm vụ tham mưu UBND tỉnh mua sắm bổ sung các loại vật tư, trang bị PCTT-TKCN.
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị tham mưu cho Ban Chỉ huy PCTT- TKCN và PTDS tỉnh chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ PTDS, ƯPSCTT, TKCN; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp với các lực lượng liên quan tổ chức huấn luyện, diễn tập cho lực lượng Bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, dự bị động viên gắn với diễn tập khu vực phòng thủ biên giới, bờ biển. Thường xuyên khảo sát địa bàn, xây dựng, bổ sung đầy đủ các kế hoạch, phương án đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh xây dựng, củng cố lực lượng nòng cốt, xung kích cấp huyện, xã vững mạnh về tổ chức, biên chế, trang bị (Bộ đội địa phương, Dân quân, Dự bị động viên); phát huy hiệu quả mạng thông tin của Đội tàu bảo vệ chủ quyền, Trung đội Dân quân biển trong PCTT-TKCN và tổ chức bắn pháo hiệu cảnh báo thiên tai theo quy định.
- Đề xuất Bộ Tư lệnh Quân khu 4 đầu tư xây dựng các công trình phòng thủ dân sự và hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin, nghiên cứu dự báo, cảnh báo, thông báo, báo động; trang cấp bổ sung các loại vật tư, phương tiện thiết yếu PCTT-TKCN Triển khai thực hiện tốt kế hoạch và cơ chế hoạt động PTDS. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện, diễn tập và thực hiện tốt các biện pháp PTDS theo thẩm quyền.
- Xây dựng, bổ sung các kế hoạch, phương án PCTT, PCCN và CNCH theo chức năng, thẩm quyền; nắm chắc tình hình sự cố, thiên tai trên địa bàn, sẵn sàng lực lượng, phương tiện thực hiện nhiệm vụ khi có yêu cầu.
- Phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, các địa phương đảm bảo ANTT tại các khu vực xảy ra sự cố, thiên tai, điều tiết, hướng dẫn giao thông và bảo đảm trật tự an toàn giao thông theo quy định; điều tra, xử lý các trường hợp lợi dụng sự cố, thiên tai để trục lợi, gây bất ổn tình hình; tăng cường các biện pháp ngăn chặn, xử lý hoạt động lấn chiếm hành lang giao thông.
- Chỉ đạo Công an các địa phương phối hợp với các đơn vị chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực PCTT, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, phát hiện, ngăn chặn khai thác khoáng sản, bến bãi tập kết cát, sỏi trái phép, lấn chiếm lòng sông, bãi sông gây cản trở dòng chảy.
- Báo cáo Bộ Công an cấp bổ sung vật tư, trang thiết bị, phương tiện thiết yếu, chuyên dụng phục vụ công tác CNCH đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
5. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, địa phương tham mưu UBND tỉnh xây dựng và triển khai Đề án sắp xếp ổn định dân cư khu vực nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi của tỉnh giai đoạn 2025-202; tiếp tục tham mưu UBND tỉnh triển khai thực hiện Luật Thủy sản năm 2017, Quyết định số 118/2007/QĐ-TTg ngày 25/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ ngư dân khắc phục rủi ro thiên tai trên biển; báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTT, Bộ NN&PTNT trang cấp bổ sung vật tư, phương tiện thiết yếu PCTT phù hợp với địa hình biên giới, vùng biển và từng loại hình thiên tai.
- Phát huy vai trò Cơ quan thường trực về PCTT, chủ động nắm bắt tình hình và kịp thời tham mưu Ban Chỉ huy PCTT-TKCN&PTDS tỉnh trong việc chỉ huy, điều hành công tác PCTT trên địa bàn tỉnh.
- Tham mưu Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS tỉnh chỉ đạo các địa phương tổ chức huấn luyện, diễn tập PCTT nâng cao khả năng thực hiện nhiệm vụ; thực hiện tốt công tác quản lý tàu cá theo phân cấp, phối hợp với các đơn vị BĐBP tỉnh tuần tra, kiểm soát xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về lĩnh vực thủy sản và PCTT; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong công tác PCTT và khai thác thủy sản.
- Đẩy mạnh truyền thông, nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng chống, ứng phó thiên tai; hiện đại hóa hệ thống thông tin, thiết bị bảo đảm an toàn và giám sát tàu cá; vận động ngư dân khai thác thủy sản xa bờ và phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá gắn với CNCH; tích cực củng cố, kiện toàn các Đội xung kích PCTT.
- Tham mưu UBND tỉnh, Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS tỉnh ban hành kế hoạch để kiểm tra, chỉ đạo công tác PCTT hàng năm ở các địa phương, kèm theo đề cương nội dung kiểm tra công tác PCTT-TKCN.
- Tham mưu tổ chức nạo vét luồng lạch, cảng cá, âu tránh bão và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cảng cá, khu neo đậu, âu tránh bão đảm bảo an toàn cho tàu cá...; phối hợp đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề cho thuyền trưởng, máy trường tàu cá và ngành khai thác, chế biến, nuôi trồng thủy sản.
- Tăng cường các biện pháp bảo vệ, phát triển rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đầu nguồn trên tuyến biên giới, bờ biển; tích cực hưởng ứng chương trình trồng 01 tỷ cây xanh và tham gia củng cố các Tổ thường trực PCCCR tại các xã, phường biên giới.
6. Sở Tài nguyên và Môi trường
- Tăng cường kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc khai thác tài nguyên, khoáng sản để hạn chế tối đa rủi ro, thiệt hại; sẵn sàng phương tiện, vật tư, thiết bị, hoá chất tham gia xử lý môi trường sau thiên tai khi có yêu cầu; phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và các đơn vị liên quan triển khai thực hiện tốt công tác ƯPSCTD.
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu, trình UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch phát triển mạng lưới trạm khí tượng thủy văn chuyên dùng phục vụ phát triển KT-XH, QP-AN và PCTT.
7. Sở Thông tin và Truyền thông
- Chủ trì, phối hợp với BĐBP tỉnh, các ngành xây dựng và triển khai phương án đảm bảo thông tin phục vụ chỉ huy, chỉ đạo PCTT-TKCN, nhất là khi xảy ra lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt kéo dài và tình huống TKCN phức tạp trên biển.
- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tấn báo chí, Đài PT và TH tỉnh, Đài TT và TH cấp huyện, hệ thống thông tin cơ sở đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, gương điển hình, việc làm sáng tạo trong PCTT-TKCN.
- Tăng cường quản lý nhà nước về thông tin truyền thông, đặc biệt là trên mạng xã hội khi thiên tai diễn biến phức tạp, kịp thời định hướng dư luận, ngăn chặn, xử lý các tổ chức, cá nhân thông tin sai sự thật, kích động nhân dân gây bất ổn tình hình.
- Phối hợp với các sở, ngành, địa phương tập huấn, hướng dẫn các biện pháp đảm bảo thông tin trong PCTT-TKCN cho nhân dân, nhất là ngư dân và nhân dân đang sinh sống trong vùng nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất, ngập lụt kéo dài.
Căn cứ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, tham mưu cấp có thẩm quyền bố trí vốn trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm để thực hiện các dự án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố thiên tai theo quy định của pháp luật về đầu tư công. Tham mưu lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm và hàng năm của tỉnh.
- Chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thành phố, thị xã và các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai phương án đảm bảo an toàn giao thông tại các tuyến đường được giao quản lý; chuẩn bị nhân lực, phương tiện, trang thiết bị chuyên ngành để sẵn sàng huy động ứng cứu phục vụ PCTT - TKCN khi có lệnh điều động của cấp trên.
- Rà soát quy hoạch, kế hoạch và tham mưu, chỉ đạo phát triển hạ tầng giao thông tuyến biên giới, vùng biển phù hợp với kế hoạch PCTT-TKCN, hạn chế làm gia tăng rủi ro thiên tai, nhất là lũ, ngập lụt và sạt lở đất.
- Phối hợp UBND các huyện, thành phố, thị xã và các cơ quan, đơn vị liên quan rà soát, xác định các điểm, tuyến đường được giao quản lý thường xuyên ngập lụt, sạt lở đất để chủ động triển khai các giải pháp khắc phục; thống kê, tổng hợp vật tư dự trữ, phương tiện, lực lượng tại chỗ của các địa phương, các cơ quan đơn vị liên quan đóng trên địa bàn đê tham mưu điều động tham gia xử lý khi có sự cố về giao thông.
- Hướng dẫn các chủ đầu tư các dự án, công trình giao thông trong KVBG có các phương án khảo sát để hạn chế tối đa sự thay đổi về địa hình, sông suối biên giới.
- Xây dựng, bổ sung các phương án, kế hoạch PCTT-TKCN theo chức năng, nhiệm vụ của ngành; hàng năm trước mùa mưa bão tăng cường kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn công tác chuẩn bị ứng phó thiên tai các cơ sở, công trình trên địa bàn do ngành quản lý, đặc biệt là các đơn vị quản lý, vận hành lưới điện, chủ sở hữu đập, hồ chứa thủy điện.
- Chỉ đạo giám sát, vận hành an toàn hồ đập thủy điện; phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tham mưu UBND tỉnh không tích nước đối với hồ không đảm bảo an toàn; giám sát việc lắp đặt hệ thống theo dõi, cung cấp số liệu cho các đơn vị chức năng về thông tin cảnh báo an toàn cho hạ du khi xả lũ.
- Kiểm tra và triển khai các kế hoạch, phương án dự trữ hàng hóa, vật tư, nhu yếu phẩm thiết yếu, nhất là khu vực trọng điểm, vùng sâu, xa, dễ bị chia cắt; phối hợp với chính quyền cơ sở, các đơn vị BĐBP thực hiện tốt kế hoạch dự trữ tại chỗ, phương án bình ổn giá thị trường khi thiên tai xảy ra.
- Trước khi mưa, bão, lũ... xảy ra yêu cầu các công trình (hồ, đập thủy điện...) đang xây dựng dừng hoạt động thi công, di dời người, thiết bị về vị trí an toàn, tránh để xảy ra sự cố đáng tiếc; sẵn sàng lực lượng, phương tiện tham gia thực hiện nhiệm vụ khi có yêu cầu.
Phối hợp với các sở, ngành, địa phương tuyên truyền, phổ biến pháp luật về PCTT-TKCN và các nội dung trong phạm vi Đề án; tham mưu kiện toàn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến pháp luật tại các huyện, thị xã, thành phố biên giới, bờ biển; đẩy mạnh hoạt động trợ giúp pháp lý cho các tổ chức, cá nhân về công tác PCTT-TKCN; quản lý, khai thác có hiệu quả hệ thống tủ sách pháp luật các cấp, nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật cho cộng đồng.
Hàng năm, căn cứ khả năng cân đối ngân sách, chủ trì phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh và các đơn vị có liên quan thẩm định dự toán kinh phí thực hiện Đề án báo cáo cấp có thẩm quyền theo phân cấp để thực hiện theo quy định.
- Xây dựng phương án dự phòng đầy đủ các cơ số thuốc, dụng cụ y tế PCTT; phương án tổ chức ứng cứu, thành lập các đội cứu thương, tải thương sẵn sàng làm nhiệm vụ khi có thiên tai; hướng dẫn công tác vệ sinh môi trường và tham gia phòng, chống dịch bệnh trong và sau thiên tai.
- Phối hợp với các sở, ngành, địa phương tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác đảm bảo y tế và xử lý tình huống trong PCTT, khắc phục hậu quả.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương liên quan thực hiện công tác đối ngoại của tỉnh trong hoạt động ƯPSCTT-TKCN; hướng dẫn, triển khai thực hiện các điều ước quốc tế và làm tốt công tác bảo hộ công dân khi có yêu cầu; gắn thực hiện Đề án với nhiệm vụ của đơn vị đảm bảo thiết thực, hiệu quả.
Tăng cường công tác kiểm tra, tuyên truyền đến các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho người, thiết bị và công trình xây dựng, công trình khai thác trên địa bàn, đặc biệt là trong mùa mưa bão; khuyến khích các đơn vị liên quan nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ sử dụng vật liệu mới, nhằm nâng cao khả năng chống chịu thiên tai của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, công trình PCTT và thích ứng với tác động cực đoan mới của thiên tai.
16. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
Chủ trì, phối hợp với BĐBP tỉnh, các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố hướng dẫn, kiểm tra, kịp thời giải quyết chế độ chính sách cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ ƯPSCTT-TKCN và các chính sách khác theo quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đời sống thích ứng với biến đổi khí hậu; tham mưu UBND tỉnh ưu tiên đặt hàng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ nghiên cứu, ứng dụng công nghệ viễn thám, tin học, tự động hóa trong quản lý, khai thác, vận hành cơ sở dữ liệu, công cụ chỉ đạo, điều hành công tác phòng, chống thiên tai.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, UBND các huyện có liên quan tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Dự án 2 “Dự án bố trí, sắp xếp ổn định dân cư vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hộ dân tộc thiểu số còn du canh, du cư, dân di cư tự do và những nơi cần thiết thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi giai đoạn 2021-2030”.
- Duy trì thực hiện tốt quy định của pháp luật về hàng hải và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; điều phối hoạt động giao thông tại cảng biển, khu vực quản lý; huy động lực lượng, phương tiện thực hiện công tác PCTT-TKCN hoặc xử lý sự cố ô nhiễm môi trường.
- Xây dựng phương án ƯPSCTT-TKCN, phương án điều động tàu thuyền tránh trú bão; điều tra, xử lý sự cố, tai nạn hàng hải, sự cố tràn dầu, ô nhiễm môi trường trong vùng nước cảng biển; đôn đốc thực hiện các biện pháp xử lý, khắc phục hậu quả do thiên tai gây ra trong lĩnh vực hàng hải tại cảng biển.
- Phối hợp tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an toàn hàng hải và PCTT- TKCN; tham gia tập huấn, diễn tập và sẵn sàng lực lượng, phương tiện thực hiện nhiệm vụ PCTT-TKCN khi có yêu cầu.
20. Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Bắc Trung Bộ
- Tổ chức quan trắc, đo đạc, dõi chặt chẽ, dự báo và cung cấp thông tin kịp thời về tình hình thiên tai phục vụ công tác phòng tránh, chỉ đạo ứng phó; nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo kịp thời, chính xác diễn biến đối với từng đợt thiên tai để tham mưu cho Ban Chỉ huy PCTT-TKCN và PTDS tỉnh trong công tác chỉ đạo, điều hành.
- Tranh thủ sự hỗ trợ của các bộ, ngành để tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo, bổ sung trang thiết bị, ứng dụng công nghệ mới trong công tác khí tượng thủy văn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên môn, bổ sung các Trạm quan trắc đo mực nước trên sông, suối biên giới. Tuyên truyền, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia quan trắc, dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn. Rà soát, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng, dự báo dài hạn về thiên tai, nguồn nước.
21. Đài Thông tin Duyên hải Bến Thủy
- Duy trì hiệu quả mạng thông tin 02 chiều giữa tàu với bờ, kịp thời thông báo, cảnh báo tình hình thiên tai, thời tiết trên biển cho ngư dân phòng tránh; tổ chức trực canh cấp cứu khẩn cấp 24/7 sẵn sàng tiếp nhận thông tin TKCN và cung cấp cho lực lượng chức năng, chính quyền địa phương xử lý, ứng cứu kịp thời.
- Triển khai tốt các giải pháp về thông tin đảm bảo an toàn cho người, phương tiện hoạt động trên biển; phối hợp với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh tổ chức tập huấn, phổ biến kiến thức, kỹ năng ứng phó thiên tai, đảm bảo an toàn cho ngư dân, thu thập, xử lý hiệu quả thông tin TKCN trên biển.
22. UBND các huyện (thị xã) biên giới, ven biển
- Xây dựng kế hoạch thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án và các chương trình, đề án, dự án PCTT-TKCN thuộc trách nhiệm quản lý của địa phương; thường xuyên rà soát các địa bàn, khu vực nguy cơ xảy ra sự cố, thiên tai để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, phương án sát thực tế.
- Tuyên truyền, phổ biến cho nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước về PCTT-TKCN, bảo vệ tài nguyên, môi trường phục vụ phát triển bền vững; nâng cao nhận thức cho cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, chú trọng xây dựng lực lượng cơ sở theo phương châm 4 tại chỗ.
- Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về PCTT-TKCN, xây dựng kế hoạch, phương án đảm bảo an toàn, an ninh cho các hoạt động phát triển KT- XH phù hợp tình hình thiên tai; phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực PCTT-TKCN theo thẩm quyền.
- Tăng cường xây dựng, củng cố lực lượng nòng cốt, xung kích PCTT- TKCN tại địa phương (Đội Thường trực, Đội xung kích PCTT, Đội tàu TKCN trên biển, Trung đội Dân quân cơ động, Tổ tàu thuyền đoàn kết, Tổ thường trực PCCCR...), đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; có cơ chế, chính sách hỗ trợ kinh phí, vật tư cho lực lượng nòng cốt, xung kích để thu hút nguồn lực tại chỗ.
- Thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ; xây dựng phương án đảm bảo thông tin chỉ huy, điều hành PCTT-TKCN. Tăng cường quản lý người, phương tiện ra vào biên giới, vùng biển và phân cấp quản lý tàu cá theo Quyết định số 35/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh; khuyến khích ngư dân chuyển đổi nghề, đóng mới tàu cá công suất lớn vươn khơi sản xuất, khẳng định chủ quyền và tham gia CNCH. Chỉ đạo UBND cấp xã tăng cường quản lý nhà nước về PCTT- TKCN, củng cố, kiện toàn Đội xung kích PCTT đảm bảo số lượng, chất lượng đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; có chế độ, chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân trực tiếp làm nhiệm vụ.
- Đầu tư xây dựng, nâng cấp hạ tầng giao thông, công trình PCTT, tránh lũ tập trung, khu neo đậu, âu tránh bão, cảng cá, bến cá; bảo vệ và phát triển rừng, củng cố đê điều, cải tạo công trình thủy lợi, nạo vét cửa sông, cửa lạch; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
- Bố trí kinh phí cho các ngành chức năng thực hiện các nhiệm vụ của Đề án tại địa phương
23. Các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội; các sở, ban, ngành cấp tỉnh có liên quan
Theo chức năng, nhiệm vụ triển khai thực hiện có hiệu quả nội dung Đề án, gắn nhiệm vụ Đề án với nhiệm vụ của đơn vị; tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố, thiên tai và TKCN đảm bảo an toàn cho cộng đồng, phát triển KT-XH, củng cố QP-AN; triển khai có hiệu quả các kế hoạch tuyên truyền, tập huấn nâng cao năng lực cho lực lượng làm công tác PCTT; kêu gọi, vận động các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế hỗ trợ các địa phương chung tay khắc phục hậu quả thiên tai; tổ chức cấp phát nguồn cứu trợ đúng đối tượng, đảm bảo khách quan, minh bạch, góp phần ổn định đời sống nhân dân.
Hàng năm, các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và UBND cấp huyện biên giới, ven biển xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án, gửi về UBND tỉnh (qua Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh) trước 15/02 để theo dõi, chỉ đạo; định kỳ 06 tháng (trước 15/6) và 01 năm (trước 15/12) báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh để tổng hợp báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh.
Giao Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, UBND các huyện biên giới, thị xã, thành phố ven biển triển khai thực hiện Đề án và tổng hợp báo cáo theo quy định./.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh