Kế hoạch 70/KH-UBND năm 2026 về khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (mùa cạn năm 2025 - 2026)
| Số hiệu | 70/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 04/03/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 04/03/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Ninh Bình |
| Người ký | Nguyễn Anh Chức |
| Lĩnh vực | Tài nguyên - Môi trường |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 70/KH-UBND |
Ninh Bình, ngày 04 tháng 3 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
KHAI
THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
(MÙA CẠN NĂM 2025 - 2026)
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 27 tháng 11 năm 2023;
Căn cứ Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước;
Căn cứ Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025 - 2026;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 1657/SNNMT-CCTL ngày 12 tháng 02 năm 2026, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (mùa cạn năm 2025 - 2026), gồm những nội dung chính như sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Đảm bảo an ninh nguồn nước, đảm bảo nhu cầu cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các ngành sản xuất, kinh doanh dịch vụ khác trên nguyên tắc điều hòa, phân phối tài nguyên nước công bằng, hợp lý giữa các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Dự báo hiện trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và nhu cầu khai thác, sử dụng nước cho các mục đích nhằm mục tiêu khai thác hiệu quả, tiết kiệm hợp lý, tránh lãng phí và làm suy cạn nguồn nước.
- Đề xuất các giải pháp điều hòa, phân phối nguồn nước đáp ứng nhu cầu sử dụng của các mục đích dựa trên sự phù hợp với thực trạng nguồn nước của tỉnh và Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025 - 2026 đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố tại Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025.
2. Yêu cầu
- Bảo đảm việc khai thác, sử dụng nước theo nhu cầu sử dụng nước bình thường trong mùa cạn năm 2025 - 2026 của từng ngành, lĩnh vực, địa phương và phù hợp với thực trạng nguồn nước của tỉnh, phù hợp với “Trạng thái bình thường” theo Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025 - 2026 đã được ban hành.
- Bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thực hiện nội dung Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025 - 2026 đã được ban hành.
II. HIỆN TRẠNG NGUỒN TRỮ NƯỚC TẠI CÁC ĐẬP, HỒ CHỨA THỦY LỢI, HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
1. Hiện trạng nguồn trữ nước tại các hồ chứa thủy lợi
Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có 46 đập, hồ chứa thủy lợi phục vụ cho mục đích sinh hoạt và cấp nước nông nghiệp, với tổng dung tích 48,916 triệu m3 gồm: 06 hồ chứa nước lớn; 09 đập, hồ chứa nước vừa (01 đập dâng); 31 hồ chứa nước nhỏ. Lượng nước trong các hồ, đập thay đổi theo lượng mưa hàng năm. Nguồn nước trong các hồ, đập cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của dân cư trong vùng.
2. Hiện trạng nguồn nước trữ tại các hệ thống công trình thủy lợi
Số công trình thủy lợi hiện có trên địa bàn tỉnh Ninh Bình gồm: 3.194 cống tưới (103 cống lớn, 1.113 cống vừa, 1.978 cống nhỏ), 2.663 cống tiêu (112 cống lớn, 1.083 cống vừa, 1.468 cống nhỏ), 3.989 cống tưới tiêu kết hợp (243 cống lớn, 928 cống vừa, 2.818 cống nhỏ); 08 âu lớn; 525 trạm bơm tưới, 154 trạm bơm tiêu, 498 trạm bơm tưới tiêu kết hợp; 8.550,17 km kênh các loại.
Chất lượng nguồn nước trên các sông Hồng, sông Đáy, sông Bôi (thượng nguồn) cung cấp nguồn nước cho các hệ thống thủy lợi và các sông chính khác chảy qua địa bàn tỉnh Ninh Bình như sông Nhuệ, sông Châu Giang, sông Sắt, sông Nông Giang (sông Duy Tiên), sông Ninh Cơ, sông Đào, sông Hoàng Long, sông Lạng, sông Vạc, sông Bến Đang, sông Ghềnh,… có chất lượng tương đối tốt, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu đề khai thác cho các nhu cầu dùng nước. Tuy nhiên, hiện nay lượng xả thải từ các khu công nghiệp và các đơn vị sản xuất, kinh doanh và từ các khu dân cư… vào công trình thủy lợi và nguồn nước trên các sông đang ngày càng gia tăng, gây ra ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đời sống dân sinh trên địa bàn tỉnh.
Trong năm 2025 - 2026, nhu cầu khai thác, sử dụng nước của các công trình cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, công trình khai thác nước để cung cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh, dịch vụ không có biến động lớn, hệ thống công trình thủy lợi vẫn chủ động phục vụ tưới tiêu theo năng lực và nhiệm vụ công trình. Tuy nhiên, do tình trạng ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống công trình thủy lợi và tình trạng xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế trên địa bàn tỉnh.
III. KẾ HOẠCH SẢN XUẤT VÀ NHU CẦU KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC
1. Kế hoạch sản xuất và nhu cầu khai thác, sử dụng nước của công trình cấp cho sinh hoạt, sản xuất
1.1. Hiện trạng nhu cầu khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất
Trong những năm gần đây, để nâng cao chất lượng đời sống nhân dân trên địa bàn nói chung và nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung nói riêng, tỉnh Ninh Bình đã đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia đầu tư, quản lý, vận hành, khai thác sau đầu tư các công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung tại tỉnh. Qua đó, tỷ lệ địa bàn các địa phương được cấp nước từ công trình cấp nước sạch tập trung ngày được nâng cao.
- Số lượng công trình cấp nước nông thôn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện có 114 công trình gồm 111 công trình khai thác nước mặt và 03 công trình khai thác nước dưới đất, tổng lượng nước khai thác năm 2025 là 75.436.010 m3; trung bình 206.674 m3/ngày đêm (trong đó lượng nước khai thác từ nguồn nước mặt là 204.194 m3/ngày đêm, chiếm tỷ lệ 98,8%; từ nguồn nước dưới đất là 2.480 m3/ngày đêm, chiếm tỷ lệ 1,2%). Trên địa bàn tỉnh có các xã thuộc địa bàn huyện Kim Sơn cũ (gồm các xã mới: Chất Bình, Kim Sơn, Quang Thiện, Phát Diệm, Lai Thành, Định Hóa, Bình Minh, Kim Đông) có nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước.
- Số lượng công trình cấp nước cho đô thị là 28 công trình (gồm 25 công trình khai thác nước mặt và 03 công trình khai thác nước dưới đất), với tổng lưu lượng khai thác năm 2025 là 16.752.405 m3; trung bình 45.897 m3/ngày đêm (trong đó lượng nước khai thác từ nguồn nước mặt là 39.997 m3/ngày đêm, chiếm tỷ lệ 87,1%; từ nguồn nước dưới đất là 5.900 m3/ngày đêm, chiếm tỷ lệ 12,9%). Trong khu vực có vùng có nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước là khu vực phường Nam Hoa Lư.
- Số lượng công trình cấp nước cho sản xuất là 42 công trình khai thác nước mặt với tổng lưu lượng khai thác là 161.372 m3/ngày đêm.
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 70/KH-UBND |
Ninh Bình, ngày 04 tháng 3 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
KHAI
THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH
(MÙA CẠN NĂM 2025 - 2026)
Căn cứ Luật Tài nguyên nước ngày 27 tháng 11 năm 2023;
Căn cứ Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước;
Căn cứ Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025 - 2026;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại văn bản số 1657/SNNMT-CCTL ngày 12 tháng 02 năm 2026, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình (mùa cạn năm 2025 - 2026), gồm những nội dung chính như sau:
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
1. Mục đích
- Đảm bảo an ninh nguồn nước, đảm bảo nhu cầu cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các ngành sản xuất, kinh doanh dịch vụ khác trên nguyên tắc điều hòa, phân phối tài nguyên nước công bằng, hợp lý giữa các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước, góp phần bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu khác của người dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Dự báo hiện trạng nguồn nước trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và nhu cầu khai thác, sử dụng nước cho các mục đích nhằm mục tiêu khai thác hiệu quả, tiết kiệm hợp lý, tránh lãng phí và làm suy cạn nguồn nước.
- Đề xuất các giải pháp điều hòa, phân phối nguồn nước đáp ứng nhu cầu sử dụng của các mục đích dựa trên sự phù hợp với thực trạng nguồn nước của tỉnh và Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025 - 2026 đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố tại Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025.
2. Yêu cầu
- Bảo đảm việc khai thác, sử dụng nước theo nhu cầu sử dụng nước bình thường trong mùa cạn năm 2025 - 2026 của từng ngành, lĩnh vực, địa phương và phù hợp với thực trạng nguồn nước của tỉnh, phù hợp với “Trạng thái bình thường” theo Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025 - 2026 đã được ban hành.
- Bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thực hiện nội dung Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025 - 2026 đã được ban hành.
II. HIỆN TRẠNG NGUỒN TRỮ NƯỚC TẠI CÁC ĐẬP, HỒ CHỨA THỦY LỢI, HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
1. Hiện trạng nguồn trữ nước tại các hồ chứa thủy lợi
Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có 46 đập, hồ chứa thủy lợi phục vụ cho mục đích sinh hoạt và cấp nước nông nghiệp, với tổng dung tích 48,916 triệu m3 gồm: 06 hồ chứa nước lớn; 09 đập, hồ chứa nước vừa (01 đập dâng); 31 hồ chứa nước nhỏ. Lượng nước trong các hồ, đập thay đổi theo lượng mưa hàng năm. Nguồn nước trong các hồ, đập cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của dân cư trong vùng.
2. Hiện trạng nguồn nước trữ tại các hệ thống công trình thủy lợi
Số công trình thủy lợi hiện có trên địa bàn tỉnh Ninh Bình gồm: 3.194 cống tưới (103 cống lớn, 1.113 cống vừa, 1.978 cống nhỏ), 2.663 cống tiêu (112 cống lớn, 1.083 cống vừa, 1.468 cống nhỏ), 3.989 cống tưới tiêu kết hợp (243 cống lớn, 928 cống vừa, 2.818 cống nhỏ); 08 âu lớn; 525 trạm bơm tưới, 154 trạm bơm tiêu, 498 trạm bơm tưới tiêu kết hợp; 8.550,17 km kênh các loại.
Chất lượng nguồn nước trên các sông Hồng, sông Đáy, sông Bôi (thượng nguồn) cung cấp nguồn nước cho các hệ thống thủy lợi và các sông chính khác chảy qua địa bàn tỉnh Ninh Bình như sông Nhuệ, sông Châu Giang, sông Sắt, sông Nông Giang (sông Duy Tiên), sông Ninh Cơ, sông Đào, sông Hoàng Long, sông Lạng, sông Vạc, sông Bến Đang, sông Ghềnh,… có chất lượng tương đối tốt, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu đề khai thác cho các nhu cầu dùng nước. Tuy nhiên, hiện nay lượng xả thải từ các khu công nghiệp và các đơn vị sản xuất, kinh doanh và từ các khu dân cư… vào công trình thủy lợi và nguồn nước trên các sông đang ngày càng gia tăng, gây ra ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đời sống dân sinh trên địa bàn tỉnh.
Trong năm 2025 - 2026, nhu cầu khai thác, sử dụng nước của các công trình cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, công trình khai thác nước để cung cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh, dịch vụ không có biến động lớn, hệ thống công trình thủy lợi vẫn chủ động phục vụ tưới tiêu theo năng lực và nhiệm vụ công trình. Tuy nhiên, do tình trạng ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống công trình thủy lợi và tình trạng xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế trên địa bàn tỉnh.
III. KẾ HOẠCH SẢN XUẤT VÀ NHU CẦU KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC
1. Kế hoạch sản xuất và nhu cầu khai thác, sử dụng nước của công trình cấp cho sinh hoạt, sản xuất
1.1. Hiện trạng nhu cầu khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất
Trong những năm gần đây, để nâng cao chất lượng đời sống nhân dân trên địa bàn nói chung và nâng cao tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung nói riêng, tỉnh Ninh Bình đã đẩy mạnh thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh, kêu gọi các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia đầu tư, quản lý, vận hành, khai thác sau đầu tư các công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung tại tỉnh. Qua đó, tỷ lệ địa bàn các địa phương được cấp nước từ công trình cấp nước sạch tập trung ngày được nâng cao.
- Số lượng công trình cấp nước nông thôn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện có 114 công trình gồm 111 công trình khai thác nước mặt và 03 công trình khai thác nước dưới đất, tổng lượng nước khai thác năm 2025 là 75.436.010 m3; trung bình 206.674 m3/ngày đêm (trong đó lượng nước khai thác từ nguồn nước mặt là 204.194 m3/ngày đêm, chiếm tỷ lệ 98,8%; từ nguồn nước dưới đất là 2.480 m3/ngày đêm, chiếm tỷ lệ 1,2%). Trên địa bàn tỉnh có các xã thuộc địa bàn huyện Kim Sơn cũ (gồm các xã mới: Chất Bình, Kim Sơn, Quang Thiện, Phát Diệm, Lai Thành, Định Hóa, Bình Minh, Kim Đông) có nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước.
- Số lượng công trình cấp nước cho đô thị là 28 công trình (gồm 25 công trình khai thác nước mặt và 03 công trình khai thác nước dưới đất), với tổng lưu lượng khai thác năm 2025 là 16.752.405 m3; trung bình 45.897 m3/ngày đêm (trong đó lượng nước khai thác từ nguồn nước mặt là 39.997 m3/ngày đêm, chiếm tỷ lệ 87,1%; từ nguồn nước dưới đất là 5.900 m3/ngày đêm, chiếm tỷ lệ 12,9%). Trong khu vực có vùng có nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước là khu vực phường Nam Hoa Lư.
- Số lượng công trình cấp nước cho sản xuất là 42 công trình khai thác nước mặt với tổng lưu lượng khai thác là 161.372 m3/ngày đêm.
Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có 02 khu vực có nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước là khu vực phường Nam Hoa Lư và các xã thuộc địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình cũ.
1.2. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất
- Ưu tiên khai thác nước cho mục đích cấp nước sinh hoạt cho người dân trên địa bàn tỉnh với số lượng và chất lượng nước theo tiêu chuẩn quy định. Trong trường hợp khô hạn cố gắng đáp ứng ở mức cao nhất bằng các giải pháp tận dụng nguồn nước mặt.
- Việc khai thác, sử dụng nước của các công trình cần phải đảm bảo yêu cầu duy trì dòng chảy trên sông chính ở khu vực hạ lưu các công trình lấy nước, đặc biệt là các trạm bơm lớn trên sông chính và các sông nhánh chính.
- Tổ chức tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ nguồn nước, bảo vệ công trình cấp nước, sử dụng nước sạch tiết kiệm và an toàn.
- Xây dựng quy trình vận hành các hệ thống công trình thủy lợi, cắm mốc giới hành lang bảo vệ công trình kênh trục chính, đặc biệt là các công trình phục vụ cho mục đích sinh hoạt.
- Đầu tư, cải tạo, nâng cấp công trình cấp nước; lắp đặt, nâng cấp trang thiết bị giám sát, điều khiển hệ thống cấp nước; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, vận hành hệ thống cấp nước.
- Các tổ chức, cá nhân khai thác nước cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất phải có phương án khai thác nguồn nước dự phòng, thay thế trong trường hợp xảy ra sự cố ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, sản xuất đang khai thác.
2. Kế hoạch sản xuất và nhu cầu khai thác, sử dụng nước của công trình cấp cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
2.1. Hiện trạng nhu cầu khai thác, sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
Tỉnh Ninh Bình hiện có 3.194 cống tưới (103 cống lớn, 1.113 cống vừa, 1.978 cống nhỏ); 2.663 cống tiêu (112 cống lớn, 1.083 cống vừa, 1.468 cống nhỏ); 3.989 cống tưới tiêu kết hợp (243 cống lớn, 928 cống vừa, 2.818 cống nhỏ); 08 âu thuyền; 525 trạm bơm tưới, 154 trạm bơm tiêu, 498 trạm bơm tưới tiêu kết hợp; 8.550,17 km kênh các loại.
Theo số liệu tổng hợp, diện tích gieo trồng cây hàng năm được tưới tiêu (kế hoạch sản xuất vụ Xuân năm 2026) là 158.100 ha (cây lúa là 134.500 ha; cây rau, màu là 23.600 ha), toàn bộ diện tích có nước phục vụ đạt 100%.
Chất lượng nguồn nước trên các sông Hồng, sông Đáy, sông Bôi (thượng nguồn) cung cấp nguồn nước cho các hệ thống thủy lợi và các sông chính khác chảy qua địa bàn tỉnh Ninh Bình có chất lượng tương đối tốt, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu đề khai thác cho các nhu cầu dùng nước.
Hiện nay, do tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng, kết hợp với tình trạng khai thác cát quá mức làm cho lòng dẫn các tuyến sông tự nhiên chảy qua địa bàn tỉnh bị hạ thấp, nước mặn xâm nhập vào vùng cửa sông, bao trùm lên hệ thống thủy lợi. Nồng độ mặn gia tăng cả về cường độ và thời gian, trong mùa khô khả năng lấy nước vào hệ thống công trình thủy lợi rất khó khăn.
Ranh mặn lớn nhất đã xuất hiện trên sông Ninh Cơ 15 - 20km; độ mặn đo được tại xã Xuân Trường: cống Trung Ninh là 4‰; cống Kẹo là 2‰; cống Trà là 2,6‰. Độ mặn 1‰ trên sông Hồng đã vượt qua ngã ba Mom Rô, cách biển (cửa Ba Lạt) khoảng 50 km. Thời gian xuất hiện xâm nhập mặn sớm hơn, độ mặn cao hơn, lấn sâu vào đất liền hơn so với trung bình nhiều năm. Ranh mặn 4g/l lớn nhất đã xuất hiện trên sông Đáy (tại âu sông Mới), vào sâu trong đất liền khoảng 45 - 50km.
Hệ thống cống đập lớn (như cống Kim Đài, cống Lãng Điền) có vai trò như lá chắn, vừa ngăn mặn từ ngoài vào, vừa trữ nước ngọt từ sông Đáy, sông Vạc cho nội đồng, hệ thống thủy lợi sông Sò là một tuyến tiêu thoát và ngăn mặn quan trọng của toàn bộ khu vực, cống Hoành Đông và Tây nằm trên các trục kênh tiêu lớn nhất, có chức năng ngăn mặn từ biển và sông, hỗ trợ nuôi trồng thủy sản, trong đó, kênh mương được phân vùng rõ ràng thành kênh mặn và kênh ngọt, đảm bảo cung cấp nước cho các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung.
Tỉnh đã ưu tiên nguồn vốn cho các dự án kiên cố hóa kênh mương, xây dựng trạm bơm dã chiến, nâng cấp các cống đầu mối. Tỷ lệ kiên cố hóa kênh mương loại III (kênh mương nội đồng) theo tiêu chí tăng cao giúp giảm thất thoát nước, tăng cường khả năng tưới tiêu chủ động, việc kiểm soát được nguồn nước đã giúp nông dân các xã ven biển hình thành các mô hình kinh tế tuần hoàn, kết hợp giữa nuôi trồng thủy sản và trồng rừng ngập mặn (cây sú, vẹt) ven biển, tạo nên hệ sinh thái nông thôn mới bền vững.
Lượng nước ngọt thượng nguồn giảm, việc phát triển thủy điện, khai thác nước ở các tỉnh thượng nguồn sông Đáy, sông Vạc, khiến lượng nước về hạ nguồn tại các xã ven biển như: xã Bình Minh, xã Kim Đông và xã Giao Bình giảm, đặc biệt trong mùa khô.
Trong năm 2025-2026, nhu cầu khai thác, sử dụng nước của các công trình cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản không có biến động lớn, hệ thống công trình thủy lợi vẫn chủ động phục vụ tưới tiêu theo năng lực và nhiệm vụ của công trình.
2.2. Kế hoạch khai thác, sử dụng nước cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
- Căn cứ vào lịch xả nước của các hồ chứa thủy điện, các địa phương chủ động tận dụng lấy nước phục vụ cho làm đất, gieo cấy lúa vụ Đông Xuân. Lịch xả nước của hồ thủy điện: 02 đợt lấy nước (thực hiện trước Tết Nguyên Đán), tổng cộng 10 ngày, cụ thể như sau:
+ Đợt 1: Từ 0 giờ 00’ ngày 16/01 đến 24 giờ 00’ ngày 20/01/2026 (5 ngày, mực nước tại trạm Thủy văn Hà Nội trong Đợt 1 duy trì không thấp hơn 1,6 m).
+ Đợt 2: Từ 0 giờ 00’ ngày 29/01 đến 24 giờ 00’ ngày 02/02/2026 (5 ngày mực nước tại trạm Thủy văn Hà Nội trong Đợt 2 duy trì không thấp hơn 1,7-1,9m).
- Theo dõi và bám sát lịch cấp nước phục vụ đổ ải; thực hiện công tác điều tiết, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng chảy, sửa chữa bờ vùng bờ thửa; thường xuyên kiểm tra, duy tu, sửa chữa, vận hành, khai thác tốt các cống đầu mối, trạm bơm nội đồng nhằm hạn chế nước mặn xâm nhập vào các hệ thống kênh, mương thủy lợi, đảm bảo cung cấp nước kịp thời, hiệu quả, giảm thất thoát, lãng phí nước, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất, nhất là thời điểm mùa khô từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
- Thực hiện điều tiết hợp lý việc khai thác, sử dụng các nguồn nước khác; trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu hụt nước thì ưu tiên, bổ cập nước cho mục đích nông nghiệp.
- Tranh thủ các đợt điều tiết nước bổ sung và các nguồn nước sẵn có để lấy nước sớm, tích trữ nước vào hệ thống kênh mương, ao, hồ, vùng trũng; một số địa phương vùng triều gặp khó khăn khi xâm nhập mặn tăng cao, nghiên cứu bổ sung các giải pháp tăng cường khả năng lấy nước, trữ nước khi độ mặn đảm bảo.
- Các ngành sử dụng nước nhưng không làm tiêu hao nguồn nước trong sông như đường thủy, du lịch… được sử dụng nguồn nước của sông không bị hạn chế về số lượng. Tuy nhiên, trong khai thác sử dụng, đặc biệt là trong vận hành trữ nước và xả nước của công trình phải đảm bảo dòng chảy môi trường và lưu lượng yêu cầu duy trì ở đoạn sông hạ lưu công trình lấy nước.
- Tăng cường công tác giám sát và thực hiện các giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm thích ứng với tình trạng xâm nhập mặn có xu hướng ngày một gia tăng trên địa bàn tỉnh.
- Tuyên truyền, vận động người dân sử dụng tiết kiệm nước, thực hiện lấy nước theo đợt theo thông báo của đơn vị khai thác, cung cấp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng đối với những diện tích thiếu nước; sử dụng các giống cây trồng thích ứng với điều kiện hạn hán; đối với diện tích nuôi trồng thủy sản có khả năng thiếu nước cần giảm quy mô hoặc chuyển đổi, sử dụng các giống nuôi trồng thích ứng với điều kiện hạn hán, thiếu nước để tránh gây thiệt hại cho nhân dân.
IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Ủy ban nhân dân các xã, phường
- Niêm yết Kế hoạch này tại trụ sở Ủy ban nhân dân các xã, phường để các đơn vị có hoạt động khai thác, sử dụng nước trên địa bàn nắm bắt nội dung Kế hoạch và kịp thời triển khai thực hiện.
- Tổ chức xác định ranh giới vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt đối với các trường hợp đã được phê duyệt vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên địa bàn quản lý.
- Rà soát, tổng hợp các khu vực sản xuất nông nghiệp có nguy cơ thiếu nước trên địa bàn, trường hợp xảy ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường để chỉ đạo điều tiết để bổ sung lượng nước thiếu hụt; có kế hoạch tuyên truyền, chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng với điều kiện hạn hán.
- Giám sát việc thực hiện Kế hoạch cấp nước an toàn của các Nhà máy nước, trạm cấp nước trên địa bàn.
2. Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Tổ chức theo dõi, kiểm tra việc chấp hành các quy định về tài nguyên nước và thủy lợi trên địa bàn tỉnh; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện quan trắc, giám sát chất lượng nước trên các sông, trên địa bàn tỉnh, để đưa ra cảnh báo kịp thời về chất lượng nước đến các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước.
- Hướng dẫn, tiếp nhận, thẩm định, tham mưu cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại, chấp thuận trả lại, tạm dừng, đình chỉ, thu hồi giấy phép khai thác tài nguyên nước, giấy phép thăm dò nước dưới đất; đăng ký khai thác, sử dụng nước mặt thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Nông nghiệp và Môi trường.
- Phối hợp với các Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi tổ chức vận hành hiệu quả các công trình thủy lợi để lấy nước phục vụ đổ ải và tưới dưỡng sản xuất nông nghiệp, hạn chế tối đa phát sinh các nhu cầu lấy nước ngoài kế hoạch.
- Rà soát hiện trạng các công trình thủy lợi trên địa bàn thành phố, đánh giá hiệu quả lấy nước của các công trình thủy lợi; tăng cường sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi có hiệu quả lấy nước kém, có biện pháp bổ sung nguồn nước dự phòng để chủ động bổ sung lượng nước trường hợp nguồn nước khó khăn.
3. Các Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi
- Tổ chức vận hành hiệu quả các công trình thủy lợi để lấy nước phục vụ đổ ải và tưới dưỡng sản xuất nông nghiệp tập trung, hạn chế tối đa phát sinh các nhu cầu lấy nước gia tăng ngoài các đợt lấy nước tập trung.
- Thường xuyên duy tu bảo dưỡng các công trình thủy lợi, đảm bảo việc cung cấp đủ lưu lượng nước để sản xuất nông nghiệp tiết kiệm, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí nước.
- Cải tạo, nâng cấp các cống dưới đê, theo dõi các hoạt động xả nước thải ra sông, tăng cường điều tiết, phân phối nước.
- Xây dựng quy trình vận hành các hệ thống công trình thủy lợi, cắm mốc giới hành lang bảo vệ công trình kênh trục chính, đặc biệt là các công trình phục vụ cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
- Chủ trì, phối hợp với các địa phương thực hiện xây dựng “Phương án ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn trên địa bàn phục vụ”; đồng thời đề xuất danh mục công trình cần đầu tư xây dựng cấp bách để đảm bảo phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn mùa khô năm 2025 - 2026 và các năm tiếp theo.
4. Các đơn vị có hoạt động khai thác, sử dụng nước trên địa bàn tỉnh
- Thường xuyên kiểm tra, duy trì hoạt động của các nhà máy nước, trạm cấp nước, mạng lưới cấp nước sinh hoạt, đảm bảo khai thác nước hiệu quả, tiết kiệm, tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên nước.
- Chủ động đề xuất nguồn nước bổ sung, thay thế trong trường hợp trạm cấp nước thiếu nguồn nước cấp.
- Lập và triển khai thực hiện kế hoạch đảm bảo cấp nước an toàn của hệ thống, công trình cấp nước sach do đơn vị mình quản lý theo quy định.
- Phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ nguồn nước, bảo vệ công trình cấp nước, sử dụng nước sạch tiết kiệm và an toàn.
Trong quá trình thực hiện Kế hoạch, nếu có khó khăn, vướng mắc, các đơn vị kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nông nghiệp và Môi trường) để tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân xem xét, giải quyết; trường hợp vượt thẩm quyền, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, hướng dẫn giải quyết./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh