Công văn 323/VLO-QLDN3 năm 2026 thuế suất thuế giá trị gia tăng do Thuế tỉnh Vĩnh Long ban hành
| Số hiệu | 323/VLO-QLDN3 |
| Ngày ban hành | 30/01/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 30/01/2026 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Vĩnh Long |
| Người ký | Huỳnh Minh Giám |
| Lĩnh vực | Thuế - Phí - Lệ Phí |
|
CỤC THUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 323/VLO-QLDN3 |
Vĩnh Long, ngày 30 tháng 01 năm 2026 |
|
Kính gửi: |
CÔNG TY TNHH CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG |
Ngày 12/01/2026, Thuế tỉnh Vĩnh Long có nhận được Công văn số 11/2026/CV-TUFOCO ngày 09/01/2026 của CÔNG TY TNHH CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG vướng mắc về việc áp dụng mức thuế suất thuế GTGT đối với nông sản sơ chế và phụ phẩm.
Thuế tỉnh Vĩnh Long có ý kiến như sau:
Căn cứ Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 149/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội, quy định:
“Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng
1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 5 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.”;
…
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 9 như sau:
“5. Phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi trong quá trình sản xuất thì áp dụng mức thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu đó.”
Căn cứ khoản 1 Điều 1 Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ, quy định:
“Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ- CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng
1. Bổ sung khoản 1b sau khoản 1 Điều 4 như sau:
“1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp,
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trong đó:
a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.
b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định này.”
Căn cứ khoản 3 Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 của Quốc hội, quy định:
“Điều 5. Đối tượng không chịu thuế
…
3. Thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật về chăn nuôi; thức ăn thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản.”
Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ, quy định:
“Điều 4. Đối tượng không chịu thuế
Đối tượng không chịu thuế thực hiện theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng. Một số trường hợp được quy định chi tiết như sau:
1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.”
|
CỤC THUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 323/VLO-QLDN3 |
Vĩnh Long, ngày 30 tháng 01 năm 2026 |
|
Kính gửi: |
CÔNG TY TNHH CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG |
Ngày 12/01/2026, Thuế tỉnh Vĩnh Long có nhận được Công văn số 11/2026/CV-TUFOCO ngày 09/01/2026 của CÔNG TY TNHH CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG vướng mắc về việc áp dụng mức thuế suất thuế GTGT đối với nông sản sơ chế và phụ phẩm.
Thuế tỉnh Vĩnh Long có ý kiến như sau:
Căn cứ Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng số 149/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội, quy định:
“Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng
1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 5 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.”;
…
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 9 như sau:
“5. Phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi trong quá trình sản xuất thì áp dụng mức thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu đó.”
Căn cứ khoản 1 Điều 1 Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ, quy định:
“Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ- CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng
1. Bổ sung khoản 1b sau khoản 1 Điều 4 như sau:
“1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp,
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trong đó:
a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.
b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định này.”
Căn cứ khoản 3 Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 của Quốc hội, quy định:
“Điều 5. Đối tượng không chịu thuế
…
3. Thức ăn chăn nuôi theo quy định của pháp luật về chăn nuôi; thức ăn thủy sản theo quy định của pháp luật về thủy sản.”
Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ, quy định:
“Điều 4. Đối tượng không chịu thuế
Đối tượng không chịu thuế thực hiện theo quy định tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng. Một số trường hợp được quy định chi tiết như sau:
1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.”
Căn cứ khoản 3 Điều 19 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ, quy định:
“Điều 19. Mức thuế suất 5%
Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng. Một số trường hợp được quy định chi tiết như sau:
…3. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.”
Căn cứ vào các quy định nêu trên, theo trình bày của CÔNG TY TNHH CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG vướng mắc về mức thuế suất thuế GTGT của sản phẩm vỏ dừa, gáo dừa, da dừa, nước dừa, mụn dừa, sơ dừa, chỉ sơ dừa và xác dừa (quy trình chế biến như sau: cơm dừa → ép lấy nước cốt dừa → xác dừa → xác dừa sấy độ béo thấp → ép lấy dầu dừa → xác dừa). Thuế tỉnh Vĩnh Long trả lời theo nguyên tắc sau:
+ CÔNG TY TNHH CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ kinh doanh sản phẩm vỏ dừa, gáo dừa, da dừa, nước dừa, mụn dừa, sơ dừa, chỉ sơ dừa được xác định là sản phẩm cây trồng chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường theo quy định tại khoản 1, Điều 4 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP khi Công ty bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ. Trường hợp Công ty kinh doanh các sản phẩm nêu trên bán cho hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ.
+ CÔNG TY TNHH CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG kinh doanh mặt hàng xác dừa được xác định là thức ăn chăn nuôi khi đáp ứng điều kiện theo quy định pháp luật về chăn nuôi thì mặt hàng xác dừa bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo khoản 3 Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 của Quốc hội.
Đề nghị CÔNG TY CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, đối chiếu với các quy định tại văn bản pháp luật nêu trên để thực hiện đúng quy định.
Thuế tỉnh Vĩnh Long thông báo đến CÔNG TY CB NÔNG SẢN THUẬN PHONG để biết và thực hiện./.
|
|
KT. TRƯỞNG THUẾ
TỈNH |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh