Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Kế hoạch 70/KH-UBND về phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn năm 2026, tỉnh Thanh Hóa

Số hiệu 70/KH-UBND
Ngày ban hành 13/03/2026
Ngày có hiệu lực 13/03/2026
Loại văn bản Kế hoạch
Cơ quan ban hành Tỉnh Thanh Hóa
Người ký Cao Văn Cường
Lĩnh vực Tài nguyên - Môi trường

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 70/KH-UBND

Thanh Hóa, ngày 13 tháng 3 năm 2026

 

PHÒNG, CHỐNG HẠN HÁN, THIẾU NƯỚC, XÂM NHẬP MẶN NĂM 2026, TỈNH THANH HÓA

Thực hiện Quyết định số 237/QĐ-BNNMT ngày 20/01/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Mã mùa cạn năm 2026; để chủ động trong công tác phòng, chống, đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản , sinh hoạt trên địa bàn tỉnh và trên cơ sở nội dung báo cáo, đề xuất của Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số 324/TTr-SNNMT ngày 02/3/2026, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn năm 2026, tỉnh Thanh Hóa với các nội dung như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

Chủ động ứng phó với hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, mực nước sông, suối xuống thấp và việc các hồ chứa trên dòng chính lưu vực sông Mã phía nước bạn Lào đã đưa vào vận hành; bảo đảm đủ nguồn nước ngọt phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Tiếp tục phát huy tính chủ động, tích cực của các ngành, các cấp và nhân dân trong sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả; triển khai đồng bộ, kịp thời các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế.

II. TÌNH HÌNH KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN, NGUỒN NƯỚC VÀ DỰ BÁO NĂM 2026

Từ tháng 01-6/2026, nhiệt độ phổ biến ở mức xấp xỉ so với trung bình nhiều năm (TBNN) cùng kỳ. Nắng nóng có khả năng xuất hiện từ khoảng tháng 3, gia tăng từ tháng 4-6, cao điểm là các tháng 5, 6; cường độ nắng nóng có khả năng tương đương TBNN.

Tổng lượng mưa các tháng đầu năm phổ biến xấp xỉ TBNN, trong đó tháng 3-5/2026 cao hơn khoảng 5-15%, tháng 6/2026 phổ biến thấp hơn khoảng 5-15%. Dòng chảy trên sông Mã tại hồ Trung Sơn thấp hơn trung bình cùng kỳ từ 9-22% từ tháng 01-5/2026 và cao hơn trung bình cùng kỳ khoảng 10% trong tháng 6/2026; trên sông Chu tại hồ Hủa Na có xu thế cao hơn khoảng 6-41% so với trung bình cùng kỳ (cao nhất tháng 5/2026).

Đến ngày 01/01/2026, tổng lượng nước tích trong 03 hồ chứa lớn (Cửa Đạt, Hủa Na, Trung Sơn) được 1,96 tỷ m3, đạt 96% dung tích thiết kế, cao hơn trung bình cùng kỳ năm 2017-2025 là 17%; dung tích trữ của các hồ thủy lợi trên 1 triệu m³ cơ bản đạt trên 86% dung tích thiết kế, riêng các hồ Chòm Mọ đạt 53%, hồ Cánh Chim đạt 64%, hồ Bến Quân đạt 73%.

Nhận định khả năng nguồn nước trên lưu vực sông Mã trong mùa cạn năm 2026 ở “Trạng thái bình thường”, nguồn nước về hồ Hủa Na, Cửa Đạt, Trung Sơn cơ bản đáp ứng được các nhu cầu sử dụng nước trong mùa cạn từ tháng 01-6/2026, khả năng không xảy ra tình trạng thiếu nước diện rộng; tuy nhiên, trong các tháng cuối mùa cạn (tháng 4-6/2026) một số vùng vẫn còn có nguy cơ xuất hiện tình trạng thiếu nước mang tính cục bộ, bên cạnh nguyên nhân do thiếu hụt lượng mưa, lượng dòng chảy, năng lực lấy nước và số lượng của các công trình khai thác, công trình thủy lợi còn thiếu, chưa đồng bộ.

Từ tháng 3-5/2026, tổng lượng mưa phổ biến từ 200-400 mm, có nơi trên 400 mm, xấp xỉ cao hơn so với TBNN; nhiệt độ không khí trung bình ở mức xấp xỉ đến cao hơn so với TBNN; nắng nóng đầu mùa có thể xảy ra vào tháng 4, xấp xỉ so với TBNN (trong tháng 4 nắng nóng chủ yếu xảy ra ở khu vực vùng núi, tháng 5 nắng nóng có xu hướng mở rộng ra nhiều nơi trên địa bàn tỉnh); mực nước trên các sông biến đổi chậm theo xu thế xuống thấp dần và ở mức thấp hơn so với TBNN cùng kỳ; lượng dòng chảy trên sông Mã tại trạm thủy văn Mường Lát có khả năng ở mức cao hơn so với TBNN cùng kỳ từ 7-29%, tại trạm thủy văn Cẩm Thủy ở mức cao hơn so với TBNN cùng kỳ từ 2-24%, trên sông Chu tại trạm thủy văn Cửa Đạt có khả năng ở mức xấp xỉ đến cao hơn so với TBNN cùng kỳ là 14%; thủy triều dao động trong khu vực ở mức xấp xỉ so với TBNN cùng kỳ, trong tháng 4-5/2026 cần chú ý khả năng xâm nhập mặn vào sâu nội đồng trong thời kỳ triều cường ảnh hưởng đến hoạt động lấy nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và hệ sinh thái trong khu vực.

Đến ngày 11/3/2026, trên địa bàn tỉnh có 592/610 hồ chứa cơ bản đảm bảo phục vụ sản xuất, còn lại 18 hồ chứa chưa đảm bảo nguồn nước phục vụ tưới trong suốt vụ; trong đó, mực nước 03 hồ chứa lớn (Cửa Đạt, Sông Mực, Yên Mỹ), như sau: (i) hồ Cửa Đạt (+101.92) m, thấp hơn mực nước dâng bình thường (MNDBT) 8,08 m và cao hơn so với cùng kỳ năm 2025 là 6,6 m; (ii) hồ Sông Mực (+31.95) m, thấp hơn MNDBT 1,05 m và cao hơn so với cùng kỳ năm 2025 là 2,21 m; (iii) hồ Yên Mỹ (+17.72) m, thấp hơn MNDBT 2,64 m và cao hơn so với cùng kỳ năm 2025 là 0,1 m.

III. NHẬN ĐỊNH KHẢ NĂNG XẢY RA THIẾU NƯỚC, HẠN HÁN, XÂM NHẬP MẶN

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 56 công trình cấp nước sạch tập trung với công suất khoảng 420.889 m3/ngày đêm và 516 công trình cấp nước tự chảy miền núi với công suất khoảng 36.996 m3/ngày đêm (trong đó, có 333 công trình kém bền vững và 183 công trình không hoạt động). Qua theo dõi hàng năm, trong trường hợp nắng nóng kéo dài, mực nước các sông xuống thấp, dòng chảy thiếu hụt trên địa bàn tỉnh, có thể chịu ảnh hưởng của thiếu nước, xâm nhập mặn đến việc cấp nước sinh hoạt như sau:

- Về ảnh hưởng của thiếu nước, xâm nhập mặn: Chủ yếu là thuộc vùng Bắc sông Mã tập trung ở khu vực ven biển và phường Hàm Rồng, có các công trình cấp nước bị ảnh hưởng chủ yếu là các công trình cấp nước sạch lấy nguồn nước thô từ hạ lưu sông Mã, sông Lèn, sông Hoạt, kênh De… như: nhà máy nước Hàm Rồng; hệ thống cấp nước sinh hoạt cho thị trấn Hậu Lộc và một số xã lân cận; nhà máy nước sinh hoạt xã Ngư Lộc; công trình cấp nước sạch 07 xã, huyện Hậu Lộc; nhà máy nước sạch Bắc Nga Sơn; nhà máy nước Nam Nga Sơn; nhà máy nước sạch 09 xã huyện Nga Sơn…. Đây là những khu vực có nhu cầu sử dụng nước sạch cao do dân cư đông đúc và tập trung nhiều hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Về ảnh hưởng của thiếu nguồn: Tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, chưa thu hút được đầu tư các công trình cấp nước sạch tập trung, chưa chủ động về nguồn nước (thiếu công trình chuyển nước và công trình khai thác nước tại chỗ), cụ thể:

+ Đối với khu vực miền núi thấp[1], là khu vực giao giữa vùng miền núi cao và vùng đồng bằng, địa hình có nhiều đồi, núi thấp, độ dốc nhỏ và xen lẫn đồng bằng, trung du. Hàng năm, vào các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 của năm sau) thường xuyên xảy ra thiếu nước sinh hoạt do mực nước sông, suối hạ thấp.

+ Đối với vùng núi cao, đặc biệt khó khăn[2], đây là vùng đặc thù có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, dân cư sống rải rác, các công trình cấp nước tự chảy được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn hỗ trợ có quy mô thôn/bản, các công trình này sau một thời gian hoạt động, phần lớn bị hư hỏng, xuống cấp, ngừng hoạt động hoặc chưa có công trình cấp nước, phụ thuộc lớn vào nguồn nước sông, suối, các mó nước phía thượng nguồn….

Với đặc điểm phân bố nguồn nước không đều, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cả về chất lượng và số lượng; trường hợp nắng nóng kéo dài trên diện rộng, diện tích có nguy cơ bị thiếu nước, hạn hán, xâm nhập mặn khoảng từ 14.000-15.000 ha, trong đó diện tích có khả năng xảy ra hạn ảnh hưởng đến năng suất cây trồng từ 8.600-9.800 ha tập trung ở các khu vực, cụ thể:

- Vùng cấp nước từ các hồ, đập, công trình thủy lợi khác với diện tích 5.500-6.700 ha, trong đó:

+ Vùng cấp nước từ các hồ, đập lớn với diện tích có khả năng xảy ra thiếu nước, hạn hán ảnh hưởng đến năng suất từ 3.500-4.300 ha, tập trung chủ yếu ở khu vực đuôi kênh của các hệ thống kênh lấy nước từ hồ Cửa Đạt (hệ thống Bái Thượng, hệ thống Bắc sông Chu-Nam sông Mã), hồ Sông Mực, hồ Yên Mỹ, gồm 51 xã, phường[3].

(Có phụ lục 1 đính kèm).

+ Vùng cấp nước từ các hồ, đập, công trình thủy lợi nhỏ với diện tích có khả năng xảy ra thiếu nước, hạn hán ảnh hưởng đến năng suất từ 2.000-2.400 ha, tập trung chủ yếu ở khu vực trung du, miền núi thuộc các vùng Nam sông Chu, Bắc sông Mã, hạ du sông Bưởi và một số vùng thừa nước nhưng thiếu các công trình tích, trữ nước; nhiều công trình bị hư hỏng, xuống cấp không trữ được nước.

(Có phụ lục 2 đính kèm).

- Vùng cấp nước từ các trạm bơm điện với diện tích khoảng 3.100 ha có khả năng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, trong đó:

+ Vùng ven biển, ảnh hưởng thủy triều với diện tích có khả năng bị ảnh hưởng bởi thiếu nước, xâm nhập mặn khoảng 2.000 ha, chủ yếu ở các xã, phường khu vực ven biển và các phường Hạc Thành, Hàm Rồng, Nguyệt Viên thuộc vùng Nam sông Chu, Bắc sông Mã. Đây là vùng các trạm bơm lấy nước từ hạ lưu sông Mã, sông Lèn, sông Hoạt, kênh De, sông Yên… với khoảng 54 trạm bơm bị ảnh hưởng mặn và các trạm bơm lấy nước hồi quy, tạo nguồn từ các kênh tiêu, trục tiêu (kênh Hưng Long, sông Đơ, sông Quảng Châu…), các trạm bơm nội đồng. Hàng năm, khi nắng nóng kéo dài, mực nước sông xuống thấp, độ mặn 1‰ vùng cửa sông, ven biển duy trì ở mức cao và lấn sâu vào nội địa từ 18-24 km; các trạm bơm không lấy được nước và nếu có lấy được nước thì thời gian lấy nước ngắn khoảng từ 4-6 giờ, gây khó khăn cho việc cấp nước phục vụ sản xuất, các đơn vị vận hành phải theo dõi mực nước triều, nối dài ống bơm để tranh thủ bơm trữ nước.

(Có phụ lục 3 đính kèm).

+ Vùng tưới trên các triền sông Mã, sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày với diện tích có khả năng ảnh hưởng bởi thiếu nước, hạn hán khoảng 1.100 ha, tập trung chủ yếu ở vùng Nam sông Chu, Nam sông Mã, Bắc sông Mã, hạ du sông Bưởi, gồm 24 xã, phường[4]. Qua theo dõi hàng năm, khi nắng nóng kéo dài trên diện rộng, mực nước sông xuống thấp, các đơn vị quản lý, vận hành phải thực hiện nối dài ống bơm hoặc sử dụng thêm các máy bơm dầu tiếp nước vào bể hút để cấp nước phục vụ sản xuất; đặc biệt là các trạm bơm lấy nước từ dòng chính sông Mã (hạ lưu Thủy điện Cẩm Thủy 1) gồm 56 trạm bơm tưới và 13 trạm bơm lấy nước từ sông Chu.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...