Kế hoạch 13/KH-UBND năm 2026 bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm lĩnh vực Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2026-2030
| Số hiệu | 13/KH-UBND |
| Ngày ban hành | 16/01/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 16/01/2026 |
| Loại văn bản | Kế hoạch |
| Cơ quan ban hành | Tỉnh Quảng Ninh |
| Người ký | Nguyễn Văn Công |
| Lĩnh vực | Thể thao - Y tế |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 13/KH-UBND |
Quảng Ninh, ngày 16 tháng 01 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG, AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2026-2030
Căn cứ Luật An toàn thực phẩm năm 2010; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; các Nghị định của Chính phủ: số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm; số 136/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 Quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Quyết định số 426/QĐ-TTg ngày 21/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị 17-CT/TW ngày 21/10/2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm trong tình hình mới; Quyết định số 1384/QĐ-BNN-QLCL ngày 15/4/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt Đề án “Đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng nông lâm thủy sản giai đoạn 2021-2030”. Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Môi trường tại tờ trình số 23/TTr-SNNMT-CCPT ngày 12/01/2026; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2026-2030, với các nội dung như sau:
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
- Góp phần bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi của nhân dân; nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông lâm thủy sản của tỉnh tại thị trường trong nước và quốc tế;
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ cấp tỉnh đến các xã, phường, đặc khu đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong công tác chỉ đạo, điều hành nhằm kiểm soát tốt hơn, toàn diện hơn công tác bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợp với các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập;
- Tập trung phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm lợi thế của tỉnh nhằm thiết lập các liên kết bền vững từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến lưu thông, tiêu thụ, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường; kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm tại tất cả các công đoạn trên cơ sở phân tích và quản lý nguy cơ;
- Kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ với chuỗi giá trị; tổ chức liên kết chặt chẽ giữa các địa phương, tạo đột phá trong phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh đối với hàng hoá nông sản của tỉnh. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ nông lâm thủy sản an toàn tại thị trường nội địa và xuất khẩu.
2. Mục tiêu cụ thể
- 100% các xã, phường, đặc khu kiện toàn hệ thống quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, hệ thống quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản phù hợp với nhiệm vụ quản lý;
- 100% cán bộ làm công tác quản lý, kiểm tra về an toàn thực phẩm; cán bộ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản từ cấp tỉnh đến cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật hàng năm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và quản lý về an toàn thực phẩm;
- Phấn đấu diện tích trồng trọt, diện tích nuôi thủy sản, số cơ sở chăn nuôi đã được chứng nhận Thực hành nông nghiệp tốt - GAP (như VietGAP hoặc tương đương) tăng 15%/năm;
- Duy trì 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản được chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm hoặc ký cam kết tuân thủ quy định an toàn thực phẩm;
- Tỷ lệ cơ sở sơ chế, chế biến thực phẩm nông lâm sản và thủy sản được chứng nhận HACCP, ISO 22000 (hoặc tương đương) tăng tương ứng 15%/năm;
- Tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu (làm sẵn, ăn liền) tăng 15%/năm; 100% cơ sở sơ chế, chế biến sâu các sản phẩm nông lâm thủy sản xuất khẩu đạt trình độ và năng lực công nghệ trung bình tiên tiến trở lên;
- Tỷ lệ mẫu thực phẩm nông lâm thủy sản được giám sát vi phạm các quy định an toàn thực phẩm giảm 10%/năm.
II. NỘI DUNG NHIỆM VỤ
1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách, pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản
- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu, đơn vị liên quan thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, nâng cao trách nhiệm trong công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản. Gắn kết chặt chẽ công tác quản lý chất lượng an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản với các nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp; tăng cường hiệu quả sự phối hợp liên ngành trong công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh;
- Ban hành các chương trình, kế hoạch, văn bản, tiêu chuẩn cơ sở, quy chuẩn kỹ thuật địa phương... để chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu, các đơn vị liên quan thực hiện nghiêm túc, đầy đủ trách nhiệm công tác quản lý an toàn thực phẩm theo nhiệm vụ được giao;
- Củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh từ cấp tỉnh đến cấp xã nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước, đảm bảo phù hợp với sự phát triển của ngành và hội nhập kinh tế quốc tế;
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thực hiện giải quyết thủ tục hành chính về an toàn thực phẩm tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công cấp tỉnh, cấp xã và giảm tối đa thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trên địa bàn.
2. Công tác thông tin, tuyên truyền, truyền thông về chất lượng, an toàn thực phẩm
- Triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng, an toàn thực phẩm của Việt Nam và thị trường nhập khẩu cho tất cả đối tượng tham gia chuỗi sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản;
- Nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức làm công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm (về quy định quản lý chất lượng an toàn thực phẩm; kỹ năng sử dụng trong quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm; thẩm định, cấp thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm; phương pháp, kỹ năng thẩm định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản…) và các nội dung liên quan;
- Tập huấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an toàn thực phẩm, các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách mới của Trung ương, của tỉnh; các quy định về xử phạt hành chính, xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm; quy trình kỹ thuật sản xuất sản phẩm nông lâm thủy sản an toàn. Phổ biến, hướng dẫn cho cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GMP, GHP, HACCP, ISO 22000, VietGAP...), các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hướng dẫn trong việc ghi nhãn hàng hóa, ứng dụng mã số mã vạch...; hướng dẫn thực hiện tự công bố thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn thuộc thẩm quyền quản lý của ngành Nông nghiệp và Môi trường đảm bảo thiết thực, hiệu quả;
- Thông tin, truyền thông về công tác bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; xây dựng phóng sự chuyên đề, chuyên mục về an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp phát sóng trên truyền hình tỉnh; in, treo áp phích, băng rôn; in ấn sổ tay, tờ rơi hướng dẫn quy trình an toàn trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông lâm thủy sản, hệ thống quản lý chất lượng an toàn thực phẩm...; tập trung thông tin, truyền thông về trách nhiệm quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp bằng nhiều hình thức trên các phương tiện truyền thông (phát thanh truyền hình, báo điện tử) của Báo và Phát thanh, Truyền hình, đảm bảo chất lượng nội dung và hiệu quả truyền thông; thông tin đầy đủ, kịp thời về tình trạng mất an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh không đảm bảo an toàn thực phẩm và công khai tổ chức, cá nhân vi phạm an toàn thực phẩm bị xử lý theo quy định;
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 13/KH-UBND |
Quảng Ninh, ngày 16 tháng 01 năm 2026 |
KẾ HOẠCH
BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG, AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2026-2030
Căn cứ Luật An toàn thực phẩm năm 2010; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; các Nghị định của Chính phủ: số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm; số 136/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 Quy định phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Quyết định số 426/QĐ-TTg ngày 21/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị 17-CT/TW ngày 21/10/2022 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm trong tình hình mới; Quyết định số 1384/QĐ-BNN-QLCL ngày 15/4/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt Đề án “Đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng nông lâm thủy sản giai đoạn 2021-2030”. Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Môi trường tại tờ trình số 23/TTr-SNNMT-CCPT ngày 12/01/2026; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2026-2030, với các nội dung như sau:
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
- Góp phần bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi của nhân dân; nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông lâm thủy sản của tỉnh tại thị trường trong nước và quốc tế;
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ cấp tỉnh đến các xã, phường, đặc khu đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong công tác chỉ đạo, điều hành nhằm kiểm soát tốt hơn, toàn diện hơn công tác bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợp với các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập;
- Tập trung phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm lợi thế của tỉnh nhằm thiết lập các liên kết bền vững từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến lưu thông, tiêu thụ, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường; kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm tại tất cả các công đoạn trên cơ sở phân tích và quản lý nguy cơ;
- Kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ với chuỗi giá trị; tổ chức liên kết chặt chẽ giữa các địa phương, tạo đột phá trong phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh đối với hàng hoá nông sản của tỉnh. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ nông lâm thủy sản an toàn tại thị trường nội địa và xuất khẩu.
2. Mục tiêu cụ thể
- 100% các xã, phường, đặc khu kiện toàn hệ thống quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, hệ thống quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản phù hợp với nhiệm vụ quản lý;
- 100% cán bộ làm công tác quản lý, kiểm tra về an toàn thực phẩm; cán bộ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản từ cấp tỉnh đến cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật hàng năm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và quản lý về an toàn thực phẩm;
- Phấn đấu diện tích trồng trọt, diện tích nuôi thủy sản, số cơ sở chăn nuôi đã được chứng nhận Thực hành nông nghiệp tốt - GAP (như VietGAP hoặc tương đương) tăng 15%/năm;
- Duy trì 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản được chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm hoặc ký cam kết tuân thủ quy định an toàn thực phẩm;
- Tỷ lệ cơ sở sơ chế, chế biến thực phẩm nông lâm sản và thủy sản được chứng nhận HACCP, ISO 22000 (hoặc tương đương) tăng tương ứng 15%/năm;
- Tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu (làm sẵn, ăn liền) tăng 15%/năm; 100% cơ sở sơ chế, chế biến sâu các sản phẩm nông lâm thủy sản xuất khẩu đạt trình độ và năng lực công nghệ trung bình tiên tiến trở lên;
- Tỷ lệ mẫu thực phẩm nông lâm thủy sản được giám sát vi phạm các quy định an toàn thực phẩm giảm 10%/năm.
II. NỘI DUNG NHIỆM VỤ
1. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách, pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản
- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu, đơn vị liên quan thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, nâng cao trách nhiệm trong công tác tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản. Gắn kết chặt chẽ công tác quản lý chất lượng an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản với các nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp; tăng cường hiệu quả sự phối hợp liên ngành trong công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh;
- Ban hành các chương trình, kế hoạch, văn bản, tiêu chuẩn cơ sở, quy chuẩn kỹ thuật địa phương... để chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu, các đơn vị liên quan thực hiện nghiêm túc, đầy đủ trách nhiệm công tác quản lý an toàn thực phẩm theo nhiệm vụ được giao;
- Củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh từ cấp tỉnh đến cấp xã nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước, đảm bảo phù hợp với sự phát triển của ngành và hội nhập kinh tế quốc tế;
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong thực hiện giải quyết thủ tục hành chính về an toàn thực phẩm tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công cấp tỉnh, cấp xã và giảm tối đa thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trên địa bàn.
2. Công tác thông tin, tuyên truyền, truyền thông về chất lượng, an toàn thực phẩm
- Triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng, an toàn thực phẩm của Việt Nam và thị trường nhập khẩu cho tất cả đối tượng tham gia chuỗi sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản;
- Nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức làm công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm (về quy định quản lý chất lượng an toàn thực phẩm; kỹ năng sử dụng trong quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm; thẩm định, cấp thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm; phương pháp, kỹ năng thẩm định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thủy sản…) và các nội dung liên quan;
- Tập huấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an toàn thực phẩm, các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách mới của Trung ương, của tỉnh; các quy định về xử phạt hành chính, xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm; quy trình kỹ thuật sản xuất sản phẩm nông lâm thủy sản an toàn. Phổ biến, hướng dẫn cho cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến (GMP, GHP, HACCP, ISO 22000, VietGAP...), các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hướng dẫn trong việc ghi nhãn hàng hóa, ứng dụng mã số mã vạch...; hướng dẫn thực hiện tự công bố thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn thuộc thẩm quyền quản lý của ngành Nông nghiệp và Môi trường đảm bảo thiết thực, hiệu quả;
- Thông tin, truyền thông về công tác bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm; xây dựng phóng sự chuyên đề, chuyên mục về an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp phát sóng trên truyền hình tỉnh; in, treo áp phích, băng rôn; in ấn sổ tay, tờ rơi hướng dẫn quy trình an toàn trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông lâm thủy sản, hệ thống quản lý chất lượng an toàn thực phẩm...; tập trung thông tin, truyền thông về trách nhiệm quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp bằng nhiều hình thức trên các phương tiện truyền thông (phát thanh truyền hình, báo điện tử) của Báo và Phát thanh, Truyền hình, đảm bảo chất lượng nội dung và hiệu quả truyền thông; thông tin đầy đủ, kịp thời về tình trạng mất an toàn thực phẩm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh không đảm bảo an toàn thực phẩm và công khai tổ chức, cá nhân vi phạm an toàn thực phẩm bị xử lý theo quy định;
- Phát thanh trên hệ thống loa tại các khu vực đông dân cư, vùng sản xuất tập trung; kết hợp tổ chức hội nghị, hội thảo, các buổi hội họp, tọa đàm tại cộng đồng dân cư để tuyên truyền sâu rộng tới các cơ sở sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm;
- Biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình tiêu biểu trong sản xuất, chế biến thực phẩm nông lâm thủy sản chất lượng, an toàn; công khai tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật bị xử lý theo quy định;
- Tiếp tục thực hiện các chương trình phối hợp với các sở, ngành, tổ chức chính trị xã hội... trong công tác thông tin, tuyên truyền đảm bảo an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng nông lâm thủy sản.
3. Phát triển vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung an toàn thực phẩm, liên kết sản xuất kinh doanh thực phẩm theo chuỗi; truy xuất nguồn gốc nông sản an toàn
- Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng đủ điều kiện sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản đảm bảo chất lượng, an toàn, gia tăng giá trị;
- Xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn áp dụng tiêu chuẩn sản xuất bền vững (như VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, sinh thái, tuần hoàn...); số hóa vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở sơ chế, chế biến, bán buôn, bán lẻ nông lâm thủy sản;
- Hình thành và phát triển mô hình chợ đầu mối/trung tâm cung ứng gắn kết với vùng nguyên liệu, hợp tác xã và liên kết với siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, chợ dân sinh các xã, phường, đặc khu đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm;
- Tiếp tục tổ chức triển khai hiệu quả các chính sách hiện hành về khuyến khích đầu tư, phát triển trong sản xuất, sơ chế, chế biến, giết mổ và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp và Môi trường;
- Hỗ trợ phát triển chuỗi các sản phẩm nông sản chủ lực; mô hình sơ chế, chế biến thực phẩm áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến đảm bảo an toàn thực phẩm (GMP, SSOP, HACCP, ISO...), các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, VietGAHP... liên kết chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn có xác nhận, áp dụng tiêu chuẩn cơ sở... tại các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung, sản phẩm trong chương trình OCOP của tỉnh;
- Tiếp tục duy trì hoạt động của Hệ thống cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn trên địa bàn tỉnh.
4. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm; hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ
- Ổn định tổ chức và đảm bảo nguồn lực cho công tác quản lý chất lượng, chế biến, an toàn thực phẩm và phát triển thị trường nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh[1]; đào tạo, bồi dưỡng cập nhật thường xuyên pháp luật, kiến thức, kỹ năng thực thi pháp luật cho cán bộ; chuẩn hóa các hoạt động quản lý nhà nước: giám sát, thẩm định, chứng nhận, kiểm tra, xử lý vi phạm...;
- Tổ chức tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh, buôn bán, giết mổ, sơ chế, chế biến động vật tuân thủ quy trình đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm. Đồng thời khuyến cáo người tiêu dùng không sử dụng sản phẩm không rõ nguồn gốc, không đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm;
- Kiểm tra, giám sát chất lượng, quản lý chặt chẽ các loại vật tư nông nghiệp (giống cây trồng nông nghiệp, lâm nghiệp, giống thủy sản; thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thức ăn chăn nuôi...), an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp và Môi trường;
- Rà soát, bố trí quỹ đất để kêu gọi, thu hút doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn quản lý theo quy hoạch; quản lý chặt chẽ đối với các cơ sở giết mổ động vật nhỏ lẻ trên địa bàn theo quy định của pháp luật về thú y; xây dựng lộ trình di dời các cơ sở, hộ kinh doanh giết mổ động vật nhỏ lẻ vào cơ sở giết mổ động vật tập trung có kiểm soát của chính quyền địa phương, cơ quan thú y và giải pháp quyết liệt để quản lý, kiểm tra việc thực hiện; kiên quyết xử lý theo đúng quy định của pháp luật đối với cơ sở, hộ kinh doanh giết mổ không bảo đảm vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm.
5. Công tác kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm
- Kiểm tra, hậu kiểm, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền địa phương, cơ sở và các cơ quan đơn vị liên quan; tăng cường kiểm tra đột xuất xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm, kể cả xử lý về hình sự các tổ chức, cá nhân vi phạm nghiêm trọng các quy định về an toàn thực phẩm, gây ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng theo quy định của pháp luật; xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân lơ là, thiếu trách nhiệm trong quản lý an toàn thực phẩm;
- 100% số cơ sở thuộc phạm vi quản lý được kiểm tra, thẩm định, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản; 100% số cơ sở không thuộc diện chứng nhận an toàn thực phẩm được ký cam kết sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn và kiểm tra sau ký cam kết; 100% các sản phẩm OCOP đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm;
- Tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành nhân dịp Tết Nguyên đán, tháng hành động vì an toàn thực phẩm theo kế hoạch của Ban chỉ đạo Trung ương về an toàn thực phẩm. Đôn đốc, kiểm tra công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản của cơ quan cấp xã theo nhiệm vụ được giao của Ủy ban nhân dân tỉnh;
- Tăng cường kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh theo quy định;
- Hàng năm ban hành kế hoạch giám sát an toàn thực phẩm đối với sản phẩm nông lâm thủy sản thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp và Môi trường trên địa bàn tỉnh, trong đó tập trung giám sát an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm chủ lực, sản phẩm có lợi thế của tỉnh, sản phẩm OCOP, hầu Thái Bình Dương và các sản phẩm nông lâm thủy sản khác nhằm kịp thời phát hiện, cảnh báo và xử lý vi phạm theo quy định và phân cấp quản lý.
6. Phát triển chế biến sản phẩm nông lâm thủy sản
- Khuyến khích, hỗ trợ đầu tư, nâng cấp, cải tạo hạ tầng cơ sở, thiết bị máy móc, công nghệ tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, để đa dạng hóa sản phẩm chế biến, giảm tổn thất sau thu hoạch, hạ giá thành sản phẩm, gắn với vùng sản xuất nguyên liệu tập trung;
- Hỗ trợ các cơ sở chế biến, bảo quản, đóng gói nông lâm thủy sản xây dựng và áp dụng hệ thống tiêu chuẩn tiên tiến (GMP, HACCP, ISO...), tăng cường chế biến sâu tạo ra giá trị gia tăng cao, tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm, kiểm soát được chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm;
- Tập trung cải tạo, nâng cấp cơ sở chế biến, bảo quản quy mô nhỏ, lạc hậu, nâng cao công suất và công nghệ phù hợp với đặc thù và khả năng sản xuất nguyên liệu tại các địa phương, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường tiêu thụ;
- Tổ chức thực hiện kiểm soát và phát triển nguồn nguyên liệu chế biến từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, khai thác và các nguồn nguyên liệu khác, nhằm đáp ứng nhu cầu của cơ sở chế biến, phù hợp với nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, tuân thủ các điều kiện, quy định của Việt Nam và thông lệ quốc tế.
7. Công tác phát triển thị trường nông lâm thủy sản
- Hỗ trợ, tham gia các hội chợ, triển lãm để quảng bá sản phẩm an toàn, sản phẩm trong chương trình OCOP, chương trình xây dựng thương hiệu và các sản phẩm chủ lực, đặc thù của địa phương tới thị trường trong và ngoài nước;
- Tổ chức các hội nghị, hội thảo, diễn đàn kết nối, giới thiệu, quảng bá sản phẩm chế biến, công nghệ chế biến và bảo quản nông sản; các hoạt động kết nối sản phẩm nông sản, sản phẩm OCOP… vào các đơn vị phân phối, hệ thống bán lẻ hiện đại, các bếp ăn tập thể; tổ chức đoàn tham dự sự kiện xúc tiến thương mại (hội nghị, hội thảo, triển lãm…) tại các tỉnh thành trong nước;
- Tập huấn cho hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp và hợp tác xã về quản trị thương mại, phân tích thị trường, ứng dụng công nghệ số, thương mại điện tử và marketing số nâng cao trong phát triển thị trường sản phẩm nông nghiệp;
- Cập nhật, cung cấp thông tin thị trường trong nước đối với một số mặt hàng nông sản chủ yếu, mặt hàng có tỷ trọng xuất khẩu lớn, chính sách thương mại của các quốc gia, về thị trường, chất lượng sản phẩm, các rào cản kỹ thuật, thuế quan...;
- Tuyên truyền, phổ biến quy định, yêu cầu, cam kết quốc tế, hiệp định thương mại, nâng cao hiểu biết pháp luật quốc tế cho doanh nghiệp; định hướng tiêu dùng nông sản trong nước; khuyến cáo người dân sản xuất căn cứ vào nhu cầu thị trường; thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên tiêu dùng hàng Việt Nam”.
8. Đào tạo, tập huấn nâng cao nghiệp vụ, kiến thức chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản
- Đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản, lấy mẫu nông lâm thủy sản, vật tư nông nghiệp từ cấp tỉnh đến cấp xã về nghiệp vụ thẩm định, kiểm tra, giám sát;
- Tập huấn trang bị kiến thức an toàn thực phẩm cho các nhóm đối tượng: Người quản lý, người trực tiếp sản xuất, chế biến, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm; phổ biến các văn bản mới, chính sách khuyến khích đầu tư, liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung; các quy định xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm;
- Tổ chức học tập kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản an toàn, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo chuỗi tại một số tỉnh, thành phố làm tốt công tác quản lý an toàn thực phẩm để vận dụng vào thực tiễn quản lý ở địa phương;
- Cử cán bộ, công chức tham gia đầy đủ các lớp đào tạo, tập huấn về các rào cản thương mại, kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa... do Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan tổ chức.
(Nội dung nhiệm vụ và phân công chi tiết theo phụ lục 01, 02, 03 kèm theo)
III. NGUỒN KINH PHÍ THỰC HIỆN
1. Từ ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành và các nguồn hợp pháp khác (nếu có).
2. Khuyến khích huy động nguồn kinh phí của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư vào các hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp.
IV. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Giải pháp chỉ đạo, điều hành
- Ban hành các chương trình, kế hoạch, văn bản chỉ đạo thực hiện; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, chấn chỉnh công tác quản lý về an toàn thực phẩm lĩnh vực nông nghiệp tại địa phương; đưa tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể về công tác bảo đảm an toàn thực phẩm lĩnh vực nông nghiệp vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương, phân công rõ trách nhiệm của từng cá nhân, cơ quan, đơn vị được kiểm tra, kiểm điểm; kịp thời xử lý dứt điểm các điểm nóng về an toàn thực phẩm được dư luận xã hội, người tiêu dùng quan tâm, phản ánh trên địa bàn. Người đứng đầu các địa phương, đơn vị từ cấp tỉnh, cấp xã phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân lơ là, thiếu trách nhiệm trong quản lý an toàn thực phẩm;
- Tập trung rà soát, đánh giá tình hình thực hiện một số quy hoạch liên quan đến vấn đề đảm bảo an toàn thực phẩm, nhằm góp phần thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Phát triển, nhân rộng chuỗi liên kết trong sản xuất - sơ chế - chế biến - bảo quản - tiêu thụ một số sản phẩm thực phẩm nông sản, thủy sản chủ lực đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm kết hợp với kiểm tra, xác nhận sản phẩm an toàn theo chuỗi trên địa bàn tỉnh;
- Triển khai thực hiện tại các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung, thu hút doanh nghiệp đầu tư các dự án chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, giết mổ động vật tập trung, liên kết sản xuất (cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, sơ chế, chế biến) gắn với lưu thông tiêu thụ sản phẩm tại địa phương.
2. Giải pháp truyền thông, tuyên truyền phổ biến pháp luật
- Triển khai đồng bộ các hoạt động tuyên truyền, truyền thông, phổ biến các quy định pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng, an toàn thực phẩm của Việt Nam và thị trường nhập khẩu cho các đối tượng tham gia sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản; đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền (in ấn, nhân bản các sản phẩm truyền thông, nâng cao số lượng, chất lượng các tài liệu và thông điệp truyền thông về an toàn thực phẩm, làm mới, sửa chữa các cụm pano tuyên truyền; treo áp phích, khẩu hiệu tại các khu vực đông dân cư, chợ đầu mối, khu du lịch); tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng (thực hiện các chuyên mục, phóng sự về an toàn thực phẩm phát trên Báo và Phát thanh - Truyền hình tỉnh); chú trọng tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh phường, xã; thông tin khách quan, trung thực, kịp thời về các điển hình sản xuất, chế biến, lưu thông thực phẩm an toàn và các vụ việc vi phạm về an toàn thực phẩm;
- Tổ chức các buổi nói chuyện, tập huấn cho cộng đồng những kiến thức cơ bản về lựa chọn, bảo quản thực phẩm an toàn, có nguồn gốc xuất xứ được kiểm soát hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức, thái độ của người tiêu dùng, chủ động không sử dụng các thực phẩm không đảm bảo chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ;
- Công khai số điện thoại của các cơ quan quản lý từ cấp tỉnh đến cấp xã để tiếp nhận phản ánh, tố giác của nhân dân về các hành vi vi phạm. Lựa chọn địa phương làm tốt công tác quản lý an toàn thực phẩm, phát triển nông nghiệp an toàn để học tập kinh nghiệm, áp dụng làm theo. Khơi dậy và phát huy tính trung thực, đạo đức kinh doanh, ý thức trách nhiệm vì cộng đồng của từng doanh nghiệp, từng doanh nhân, từng hộ gia đình và từng người dân để đảm bảo an toàn thực phẩm, nhất là trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
- Đưa nội dung tuyên truyền, vận động thực hiện Kế hoạch này vào kế hoạch công tác hàng năm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các đoàn thể, để chỉ đạo, tuyên truyền, vận động, giám sát tại cộng đồng sản xuất, kinh doanh nông sản an toàn, thực hiện hiệu quả các chương trình phối hợp, gắn thực hiện các chỉ tiêu Kế hoạch này với Chương trình xây dựng nông thôn mới, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đồng bộ, liên tục, hiệu quả nhằm tạo sự chuyển biến rõ nét về nhận thức trong thành viên, hội viên và nhân dân;
- Biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình tiêu biểu trong sản xuất, chế biến thực phẩm nông lâm thủy sản chất lượng, an toàn; công khai tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật bị xử lý theo quy định.
3. Giải pháp về nguồn lực, kinh phí
- Bố trí nguồn lực cho các cơ quan chuyên môn để thực hiện việc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nông lâm thuỷ sản; ổn định và phân công công chức theo dõi công tác an toàn thực phẩm lĩnh vực nông nghiệp tại các xã, phường, đặc khu; với nguyên tắc “Rõ người - rõ việc - rõ trách nhiệm - rõ thẩm quyền - rõ thời gian - rõ kết quả”, hạn chế việc luân chuyển cán bộ, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. Phát huy vai trò của Ủy ban mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội từ tỉnh đến cơ sở thực hiện quản lý, giám sát an toàn thực phẩm đảm bảo sự vào cuộc một cách toàn diện ngay tại cơ sở, từ khâu sản xuất ban đầu;
- Đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị, phương tiện làm việc, dụng cụ để kiểm tra, kiểm soát thực phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm cho các ngành chức năng, các đơn vị cấp tỉnh, cấp xã, phường, đặc khu nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ về quản lý an toàn thực phẩm trong tình hình mới;
- Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn dài ngày để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản, xúc tiến thương mại của cấp tỉnh, nhất là các chính sách, quy định mới có liên quan của Việt Nam và quốc tế;
- Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ngắn ngày, tập huấn kiến thức, bồi dưỡng chuyên môn, hội thảo cho cán bộ Ban chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm cấp xã; các đối tượng là cán bộ, công chức chuyên trách hoặc kiêm nhiệm ở xã, phường, đặc khu và các đối tượng là lực lượng kiểm soát, nhân viên, cán bộ làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh;
- Thu hút nguồn nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và đẩy mạnh phối hợp các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức trong và ngoài nước ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ mới, hiện đại, thân thiện với môi trường vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nhằm cải thiện và đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh.
4. Giải pháp phát triển các vùng sản xuất hàng hóa nông nghiệp tập trung, phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản và thị trường tiêu thụ với chuỗi giá trị
- Triển khai các chính sách của Trung ương, của tỉnh đã ban hành về hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh nông lâm thủy sản;
- Tổ chức thực hiện và nhân rộng các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh được chứng nhận VietGAP, GMP, GHP, HACCP, ISO 22000, nông nghiệp hữu cơ, gắn với chứng nhận và công bố tiêu chuẩn chất lượng; gắn với chương trình xây dựng thương hiệu; chương trình OCOP tỉnh, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy sản và chăn nuôi;
- Thực hiện liên kết, hợp tác kinh doanh, phát huy vai trò đầu tàu của doanh nghiệp/hợp tác xã trong phát triển liên kết chuỗi nông sản; xây dựng vùng nguyên liệu chuyên canh cung cấp cho chế biến nông sản; công nghệ sản xuất nguyên liệu sạch (không tồn dư hóa chất, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, chất cấm);
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập thông tin, dự báo tình hình thị trường, qua đó thông tin cho các doanh nghiệp để điều tiết hoạt động phù hợp theo nhu cầu thị trường. Kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu.
5. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát chất lượng, an toàn thực phẩm
- Thực hiện đồng bộ, quyết liệt công tác quản lý an toàn thực phẩm theo toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm tại các công đoạn từ nuôi trồng, thu hái, khai thác, giết mổ, sơ chế, chế biến đến vận chuyển đến lưu thông, tiêu thụ nông sản;
- Tăng cường lực lượng và hoạt động cho cơ quan kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản; chú trọng nâng cao năng lực hoạt động thanh tra chuyên ngành Nông nghiệp và Môi trường;
- Triển khai các hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm theo quy định, tập trung vào các sản phẩm xuất khẩu, các sản phẩm tươi sống, sản phẩm không bao gói, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi thực phẩm, đảm bảo sản phẩm sau mỗi công đoạn phải được dán nhãn hoặc được định dạng bằng một phương thức thích hợp để dễ dàng truy xuất nguồn gốc;
- Tổ chức lấy mẫu giám sát về chất lượng, an toàn thực phẩm các sản phẩm có nguy cơ cao, sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm được người tiêu dùng sử dụng hằng ngày để cảnh báo và điều tra, truy xuất, xử lý tận gốc đối với sản phẩm, cơ sở sản xuất kinh doanh vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm. Tập trung tăng số lượng mẫu, số cơ sở giám sát và các chỉ tiêu phân tích phù hợp với tình hình thực tế, từng công đoạn, từng sản phẩm.
6. Giải pháp xúc tiến thương mại và đầu tư
- Thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp và Môi trường theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; cắt giảm mạnh các rào cản về điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp, tạo sức hấp dẫn cho doanh nghiệp đầu tư;
- Chú trọng thị trường nội địa, đặc biệt là những thị trường gắn với vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng hàng hóa, đảm bảo an toàn thực phẩm, tiêu thụ kịp thời nông sản cho người dân, khắc phục tình trạng dư thừa, giảm giá gây thiệt hại cho người sản xuất. Xúc tiến quảng bá, giới thiệu các sản phẩm nông sản hàng hóa có chất lượng, đảm bảo an toàn thực phẩm thông qua tổ chức các hội chợ, triển lãm, hội thảo, diễn đàn; kết nối đưa nông sản địa phương, vùng miền vào các điểm phân phối, bán hàng nông sản;
- Tổ chức giới thiệu quảng bá sản phẩm OCOP gắn với địa phương, vùng miền; tăng cường hoạt động kết nối các doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản cho người dân;
- Thông tin, tuyên truyền tới cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản các chính sách, quy định mới của Việt Nam và quốc tế theo lĩnh vực quản lý; xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ sản phẩm an toàn theo chuỗi cung ứng thực phẩm.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Chủ trì thực hiện Kế hoạch; tổ chức đôn đốc các sở, ngành liên quan; Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu triển khai thực hiện và tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh;
- Hàng năm xây dựng Kế hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm ngành Nông nghiệp và Môi trường, trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để triển khai thực hiện;
- Chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản theo phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh; căn cứ theo hướng dẫn của trung ương, thực tế của địa phương để tập huấn, hướng dẫn cơ quan quản lý và cán bộ được giao nhiệm vụ thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu bảo đảm quản lý tốt về chất lượng, an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh;
- Kiểm tra công tác xử lý chất thải, công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh nông lâm thủy sản trên địa bàn tỉnh theo quy định;
- Phối hợp với các ngành, đơn vị liên quan xúc tiến thương mại và quảng bá đối với các sản phẩm nông lâm thủy sản trong chương trình OCOP của tỉnh; hướng dẫn các cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP tỉnh đầu tư, nâng cấp trang thiết bị công nghệ chế biến đáp ứng tiêu chuẩn, bảo đảm an toàn thực phẩm.
2. Sở Y tế
- Tổ chức kiểm tra, hậu kiểm, giám sát nguy cơ ô nhiễm thực phẩm nông lâm thủy sản đối với nguyên liệu đầu vào tại các cơ sở dịch vụ ăn uống, các sản phẩm tự công bố theo phân công phân cấp; xử lý nghiêm trường hợp sử dụng thực phẩm không đảm bảo an toàn, không có nguồn gốc xuất xứ đưa vào chế biến;
- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản, Quyết định, Kế hoạch, Chương trình, Dự án theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Tỉnh ủy trong công tác quản lý bảo đảm an toàn thực phẩm; tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác an toàn thực phẩm; truy xuất nguồn gốc thực phẩm có các dấu hiệu, nguy cơ ô nhiễm thực phẩm nông lâm thủy sản theo phân cấp quản lý.
3. Sở Công Thương
- Tổ chức kiểm tra, giám sát nguy cơ ô nhiễm thực phẩm nông lâm thủy sản tại các cơ sở thuộc phạm vi quản lý, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm quy định về an toàn thực phẩm;
- Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Y tế tăng cường kiểm soát hoạt động kinh doanh nông lâm thủy sản, chú trọng quản lý an toàn thực phẩm tại các chợ, phương tiện vận chuyển trên địa bàn toàn tỉnh;
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, tiêu thụ thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn, sản phẩm OCOP; hướng dẫn, định hướng tiêu thụ cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thực phẩm xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc và các thị trường quốc tế nhiều tiềm năng;
- Kiểm tra, kiểm soát ngăn chặn việc lưu thông thực phẩm nông lâm thủy sản quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm.
4. Sở Tài chính
Căn cứ nhiệm vụ được giao, đề xuất của các cơ quan, đơn vị cấp tỉnh tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện theo quy định.
5. Các sở, ngành có liên quan
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ chủ động phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu triển khai thực hiện Kế hoạch; định kỳ, đột xuất báo cáo kết quả thực hiện về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nông nghiệp và Môi trường) theo quy định.
6. Đề nghị Ủy ban Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh
Đề nghị Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh, Hội Nông dân tỉnh phối hợp thực hiện các nội dung sau:
- Giám sát, tổng hợp phản ánh kiến nghị cử tri, đoàn viên và hội viên; tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành về an toàn thực phẩm;
- Chỉ đạo Ủy ban Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội cấp dưới phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu triển khai các nội dung của Kế hoạch này, lồng ghép việc thực hiện Chương trình phối hợp tuyên truyền, vận động sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng, phát triển bền vững.
7. Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu
- Hàng năm, xây dựng Kế hoạch bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm trong lĩnh vực Nông nghiệp trên địa bàn. Ưu tiên bố trí kinh phí, nguồn lực đảm bảo cho công tác quản lý an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản tại địa phương;
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền, tập huấn nâng cao kiến thức và thực hành an toàn thực phẩm; truyền thông qua hệ thống loa tại khu dân cư, vùng sản xuất tập trung;
- Tổ chức kiểm tra, hậu kiểm, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền địa phương, cơ sở và các cơ quan đơn vị liên quan; tập trung thanh tra, kiểm tra đột xuất để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các cơ sở vi phạm về an toàn thực phẩm; kiểm soát chặt chẽ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trước khi đưa ra thị trường và các nguồn thực phẩm từ ngoài vào địa bàn;
- Rà soát, bố trí quỹ đất để kêu gọi, thu hút doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập trung trên địa bàn quản lý theo quy hoạch. Tăng cường quản lý, kiểm soát hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ; phối hợp triển khai lộ trình di dời các cơ sở giết mổ không bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm vào cơ sở giết mổ tập trung theo quy hoạch;
- 100% số cơ sở thuộc phạm vi quản lý được kiểm tra, thẩm định, chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản; 100% số cơ sở không thuộc diện chứng nhận an toàn thực phẩm được ký cam kết sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn và kiểm tra việc thực hiện cam kết; 100% các sản phẩm OCOP đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm;
- Hỗ trợ phát triển chuỗi các sản phẩm nông sản chủ lực; mô hình sơ chế, chế biến, sản xuất thực phẩm áp dụng hệ thống GMP, SSOP, HACCP, ISO, VietGAP... liên kết chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn có xác nhận;
- Duy trì và phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, sinh thái, tuần hoàn...; số hóa vùng trồng, vùng nuôi, cơ sở sơ chế, chế biến, bán buôn, bán lẻ nông lâm thủy sản;
- Khai thác, sử dụng hiệu quả Hệ thống cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc thực phẩm nông lâm thủy sản an toàn trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh quản lý về truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý thực phẩm không đảm bảo an toàn theo quy định;
- Hình thành và phát triển mô hình chợ đầu mối/trung tâm cung ứng gắn kết với vùng nguyên liệu, hợp tác xã và liên kết với siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, chợ dân sinh các xã, phường, đặc khu đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm;
- Tổ chức, tham gia các hội chợ, triển lãm, các diễn đàn, hội nghị/hội thảo kết nối và hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia để giới thiệu, quảng bá, kết nối tiêu thụ nông sản an toàn.
8. Chế độ báo cáo
Hàng năm, Sở Y tế, Sở Công Thương, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu và các cơ quan, đơn vị liên quan báo cáo kết quả thực hiện gửi về Sở Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 05/12; Sở Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh kết quả thực hiện Kế hoạch trước ngày 10/12.
Trong quá trình tổ chức, triển khai, nếu phát sinh các khó khăn, vướng mắc các sở, ngành, địa phương báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nông nghiệp và Môi trường) để xem xét điều chỉnh cho phù hợp./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
[1] Theo quy định tại khoản 12, khoản 13 Điều 2; khoản 19 Điều 4 Thông tư số 19/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh