Công văn 4486/BVHTTDL-VP năm 2022 trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Tạ Đình Thi do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành
| Số hiệu | 4486/BVHTTDL-VP |
| Ngày ban hành | 11/11/2022 |
| Ngày có hiệu lực | 11/11/2022 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Bộ Văn hoá, Thể thao và du lịch |
| Người ký | Nguyễn Văn Hùng |
| Lĩnh vực | Bộ máy hành chính,Văn hóa - Xã hội |
|
BỘ VĂN HÓA, THỂ
THAO VÀ DU LỊCH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số:
4486/BVHTTDL-VP |
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2022 |
|
Kính gửi: |
- Đại biểu Quốc hội Tạ Đình Thi; |
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận được chất vấn của Đại biểu Quốc hội Tạ Đình Thi, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội theo Công văn số 1353/TTKQH-GS ngày 12/8/2022 của Tổng Thư ký Quốc hội, nội dung chất vấn như sau:
Du lịch biển đảo ngày càng trở thành một xu hướng và động lực mới với nhiều tiềm năng ở Việt Nam. Với số lượng du khách tăng nhiều trong những năm qua và luôn chiếm khoảng 70% tổng số du khách cả nước, du lịch biển đảo đang là loại hình du lịch chủ đạo, góp phần quan trọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Tuy nhiên, du lịch biển đảo ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như: dịch vụ còn thiếu, nghèo nàn; sản phẩm chưa đa dạng, an ninh trật tự và quản lý giá tại một số khu, điểm du lịch chưa bảo đảm; quy hoạch nhiều bãi biển đẹp bị phá vỡ; du lịch hải đảo còn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng; ô nhiễm môi trường, rác thải nhựa, suy giảm đa dạng sinh học biển diễn ra ở nhiều nơi; chưa xây dựng được hệ sinh thái du lịch biển và hải đảo...
Phát triển du lịch và dịch vụ biển là ưu tiên cao nhất trong 6 lĩnh vực kinh tế biển theo Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chính phủ đã giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương xây dựng cơ chế, chính sách để phát huy các tuyến du lịch sinh thái tại một số đảo xa bờ và xây dựng Đề án phát triển bền vững du lịch, dịch vụ biển và hải đảo Việt Nam đến năm 2030, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Xin được hỏi Bộ trưởng, hiện nay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã và đang triển khai các biện pháp gì để khắc phục tình trạng nêu trên và thực hiện các nhiệm vụ được giao về phát triển bền vững du lịch và dịch vụ biển? Giải pháp đột phá mà Bộ đề ra là gì?
Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng.
Về nội dung chất vấn của Đại biểu, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xin được trả lời như sau:
Là một quốc gia có đường biển dài với nhiều lợi thế về địa chính trị và các tài nguyên du lịch biển phong phú và đa dạng, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh rất cao về du lịch so với khu vực và quốc tế. Đường bờ biển với hàng trăm bãi tắm chất lượng cao, hàng nghìn đảo ven bờ lớn nhỏ, hệ thống đầm, vũng, vịnh, các khu dự trữ sinh quyển, hệ thống di sản, di tích tập trung ở các tỉnh ven biển cùng các giá trị văn hóa biển đặc sắc đã tạo ra sức hút lớn về du lịch ở các địa phương ven biển.
Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định du lịch là một trong những lĩnh vực kinh tế biển chính cần được thúc đẩy phát triển. Du lịch biển đảo luôn được xác định là thế mạnh và là định hướng ưu tiên trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam qua các thời kỳ. Theo định hướng, tại các địa bàn ven biển có 5/7 khu vực động lực phát triển du lịch trên cả nước. Thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Kế hoạch hành động, tập trung thực hiện nhiều hoạt động thúc đẩy phát triển du lịch khu vực biển, đảo: từ công tác quy hoạch, kế hoạch đến phối hợp với các địa phương trong xúc tiến thu hút đầu tư, tổ chức khảo sát, phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá, tổ chứ sự kiện, lễ hội, thi ẩm thực, đào tạo, tập huấn nâng cao nghiệp vụ du lịch cho các địa phương ven biển.
Thời gian qua, du lịch biển đã có sự phát triển vượt bậc, khẳng định vững chắc được vị thế trong hệ thống sản phẩm du lịch Việt Nam, góp phần xác lập vai trò, vị trí của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Lượng khách đến các địa phương ven biển tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước, năm 2019 đạt trên 34 triệu lượt khách quốc tế và 145,6 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 508 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 67,3% của cả nước.
Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cao cấp, chất lượng cao được hình thành rõ rệt và nhanh chóng tại các địa phương ven biển, đặc biệt là các tỉnh Nam Trung bộ, khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh và Phú Quốc (Kiên Giang), khu vực tập trung chính về khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao cấp của cả nước. Từng bước phát triển thành những trung tâm du lịch hiện đại có tầm cỡ quốc tế. Tổng số phòng lưu trú các địa phương biển đạt 400.000 buồng, chiếm 66% của cả nước.
Hệ thống sản phẩm du lịch biển hiện nay cũng đã định hình khá rõ rệt:
+ Du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển phát triển mạnh ở dải biển vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Bắc bộ, Bắc Trung Bộ: các tỉnh như Thanh Hóa, Quảng Bình, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Định, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang.
+ Du lịch thể thao biển tập trung ở các địa phương có lợi thế như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận.
+ Du lịch sinh thái biển được phát triển tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Quảng Nam, Khánh Hòa, Phú Quốc (Kiên Giang), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu).
+ Du lịch MICE và vui chơi giải trí tại các đô thị biển ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang.
Các hoạt động du lịch đa dạng cũng được chú trọng phát triển ở các địa phương ven biển như tìm hiểu di sản, tìm hiểu văn hóa - lịch sử, ẩm thực, lễ hội, tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng tâm linh… giúp đa dạng hóa, tăng sức hấp dẫn của điểm đến, kéo dài thời gian lưu trú và tăng thu nhập cho các địa phương ven biển.
Hệ thống cơ sở hạ tầng như đường không và đường bộ tới các tỉnh ven biển khá thuận lợi. Riêng về du lịch tàu biển, mặc dù có xu hướng phát triển nhanh ở cả thế giới và khu vực, Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế, tuy nhiên du lịch tàu biển ở Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng do chưa có hạ tầng phù hợp. Hiện cả nước mới có 01 cảng biển du lịch ở Quảng Ninh, còn lại phải sử dụng cảng hàng hóa nên không đảm bảo điều kiện đón khách. Khách du lịch tàu biển mới chỉ chiếm khoảng 1-1,5% tổng lượng khách quốc tế của cả nước.
Năm 2020 và 2021, du lịch ven biển Việt Nam chịu thiệt hại hết sức to lớn bởi đại dịch Covid-19. Tổng lượng khách quốc tế đến các tỉnh ven biển năm 2020 chỉ đạt 6 triệu lượt, bằng 18% của năm 2019, khách nội địa đạt 78 triệu lượt, bằng 54% của năm 2019. Từ đầu năm 2022 ghi dấu sự hồi phục rất nhanh chóng của thị trường khách du lịch nội địa, đặc biệt tới khu vực biển đảo. Với chính sách mở cửa thị trường du lịch khách quốc tế từ 15/3/2022, lượng khách du lịch quốc tế cũng đang dần tăng trưởng trở lại. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tích cực triển khai các công tác truyền thông quảng bá, kích cầu du lịch nội địa, hướng dẫn các địa phương trong công tác phục hồi hoạt động du lịch, tổ chức nhiều sự kiện mở đầu mùa du lịch biển. Du lịch biển cũng đang là khu vực chính tạo ra những động lực phục hồi của ngành du lịch.
Bên cạnh các kết quả về phát triển kinh tế, phát triển du lịch biển còn gắn với công tác bảo vệ môi trường, phát huy truyền thống văn hóa, phát triển cộng đồng và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Thời gian qua, việc phát triển du lịch ở các địa phương ven biển đã thu hút được sự tham gia của người dân, góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân địa phương ven biển. Hàng năm, trong công tác chỉ đạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn tích cực triển khai các nhiệm vụ môi trường, các nhiệm vụ gắn với ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Bên cạnh đó, cũng thực hiện từng bước các nhiệm vụ gắn với hỗ trợ cồng đồng về cải thiện sinh kế của người dân, đảm bảo quyền lợi tiếp cận của người dân với biển.
Để tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Nghị quyết 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang chỉ đạo ngành du lịch tập trung các biện pháp phục hồi ngành du lịch, nâng cao năng lực của các địa phương, trong đó tập trung cho các địa phương ven biển là những địa phương trọng yếu thu hút khách du lịch để tạo đà cho các năm tiếp theo tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế biển.
Để du lịch biển phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, tiếp tục giữ vai trò động lực trong phát triển kinh tế biển bền vững, trong thời gian tới cần tập trung triển khai những giải pháp trọng yếu sau:
- Cần tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao ở các khu vực động lực phát triển du lịch ven biển cùng các chính sách phát triển sản phẩm du lịch biển đảo tạo ra sự phát triển đột phá cho du lịch biển đồng thời vươn ra các đảo xa bờ.
- Để có thể phát triển các trung tâm du lịch biển tầm cỡ, quy mô quốc tế như định hướng của Nghị quyết 36/-NQ/TW, cần tập trung thu hút các nhà đầu tư phát triển các dự án trọng điểm, tránh manh mún, tránh sự trùng lắp về nội dung, quy mô, hình thức dự án. Tập trung vào thế mạnh nổi trội, lợi thế cạnh tranh và tính đặc thù của từng vùng biển, từng địa phương để xác định tính chất dự án.
- Cần bổ sung danh mục ưu đãi đầu tư lĩnh vực đầu tư phát triển du lịch sinh thái biển để thúc đẩy phát triển các khu du lịch sinh thái biển chất lượng cao, mang tầm cỡ quốc tế, khai thác bền vững và có trách nhiệm hệ sinh thái biển.
- Cần có chính sách đầu tư phát triển cảng biển du lịch để đón được lượng khách du lịch tàu biển chất lượng cao, tập trung trước mắt tại khu vực Duyên hải Nam trung bộ, đồng thời cải thiện vấn đề quá tải của các cảng hàng không như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh.
- Tập trung tổ chức các sự kiện, lễ hội biển mang tầm cỡ và tiếng vang để đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá, thúc đẩy phát triển thương hiệu du lịch biển.
- Cần quản lý tốt công tác an toàn, an ninh trật tự, vệ sinh, môi trường ở các khu, điểm du lịch, quản lý sức chứa và các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
|
BỘ VĂN HÓA, THỂ
THAO VÀ DU LỊCH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số:
4486/BVHTTDL-VP |
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2022 |
|
Kính gửi: |
- Đại biểu Quốc hội Tạ Đình Thi; |
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận được chất vấn của Đại biểu Quốc hội Tạ Đình Thi, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội theo Công văn số 1353/TTKQH-GS ngày 12/8/2022 của Tổng Thư ký Quốc hội, nội dung chất vấn như sau:
Du lịch biển đảo ngày càng trở thành một xu hướng và động lực mới với nhiều tiềm năng ở Việt Nam. Với số lượng du khách tăng nhiều trong những năm qua và luôn chiếm khoảng 70% tổng số du khách cả nước, du lịch biển đảo đang là loại hình du lịch chủ đạo, góp phần quan trọng đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Tuy nhiên, du lịch biển đảo ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như: dịch vụ còn thiếu, nghèo nàn; sản phẩm chưa đa dạng, an ninh trật tự và quản lý giá tại một số khu, điểm du lịch chưa bảo đảm; quy hoạch nhiều bãi biển đẹp bị phá vỡ; du lịch hải đảo còn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng; ô nhiễm môi trường, rác thải nhựa, suy giảm đa dạng sinh học biển diễn ra ở nhiều nơi; chưa xây dựng được hệ sinh thái du lịch biển và hải đảo...
Phát triển du lịch và dịch vụ biển là ưu tiên cao nhất trong 6 lĩnh vực kinh tế biển theo Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chính phủ đã giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẩn trương xây dựng cơ chế, chính sách để phát huy các tuyến du lịch sinh thái tại một số đảo xa bờ và xây dựng Đề án phát triển bền vững du lịch, dịch vụ biển và hải đảo Việt Nam đến năm 2030, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Xin được hỏi Bộ trưởng, hiện nay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã và đang triển khai các biện pháp gì để khắc phục tình trạng nêu trên và thực hiện các nhiệm vụ được giao về phát triển bền vững du lịch và dịch vụ biển? Giải pháp đột phá mà Bộ đề ra là gì?
Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng.
Về nội dung chất vấn của Đại biểu, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xin được trả lời như sau:
Là một quốc gia có đường biển dài với nhiều lợi thế về địa chính trị và các tài nguyên du lịch biển phong phú và đa dạng, Việt Nam có lợi thế cạnh tranh rất cao về du lịch so với khu vực và quốc tế. Đường bờ biển với hàng trăm bãi tắm chất lượng cao, hàng nghìn đảo ven bờ lớn nhỏ, hệ thống đầm, vũng, vịnh, các khu dự trữ sinh quyển, hệ thống di sản, di tích tập trung ở các tỉnh ven biển cùng các giá trị văn hóa biển đặc sắc đã tạo ra sức hút lớn về du lịch ở các địa phương ven biển.
Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định du lịch là một trong những lĩnh vực kinh tế biển chính cần được thúc đẩy phát triển. Du lịch biển đảo luôn được xác định là thế mạnh và là định hướng ưu tiên trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam qua các thời kỳ. Theo định hướng, tại các địa bàn ven biển có 5/7 khu vực động lực phát triển du lịch trên cả nước. Thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Kế hoạch hành động, tập trung thực hiện nhiều hoạt động thúc đẩy phát triển du lịch khu vực biển, đảo: từ công tác quy hoạch, kế hoạch đến phối hợp với các địa phương trong xúc tiến thu hút đầu tư, tổ chức khảo sát, phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá, tổ chứ sự kiện, lễ hội, thi ẩm thực, đào tạo, tập huấn nâng cao nghiệp vụ du lịch cho các địa phương ven biển.
Thời gian qua, du lịch biển đã có sự phát triển vượt bậc, khẳng định vững chắc được vị thế trong hệ thống sản phẩm du lịch Việt Nam, góp phần xác lập vai trò, vị trí của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Lượng khách đến các địa phương ven biển tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước, năm 2019 đạt trên 34 triệu lượt khách quốc tế và 145,6 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 508 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 67,3% của cả nước.
Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cao cấp, chất lượng cao được hình thành rõ rệt và nhanh chóng tại các địa phương ven biển, đặc biệt là các tỉnh Nam Trung bộ, khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh và Phú Quốc (Kiên Giang), khu vực tập trung chính về khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao cấp của cả nước. Từng bước phát triển thành những trung tâm du lịch hiện đại có tầm cỡ quốc tế. Tổng số phòng lưu trú các địa phương biển đạt 400.000 buồng, chiếm 66% của cả nước.
Hệ thống sản phẩm du lịch biển hiện nay cũng đã định hình khá rõ rệt:
+ Du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển phát triển mạnh ở dải biển vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Bắc bộ, Bắc Trung Bộ: các tỉnh như Thanh Hóa, Quảng Bình, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Định, Phú Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang.
+ Du lịch thể thao biển tập trung ở các địa phương có lợi thế như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Thuận.
+ Du lịch sinh thái biển được phát triển tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Quảng Nam, Khánh Hòa, Phú Quốc (Kiên Giang), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu).
+ Du lịch MICE và vui chơi giải trí tại các đô thị biển ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang.
Các hoạt động du lịch đa dạng cũng được chú trọng phát triển ở các địa phương ven biển như tìm hiểu di sản, tìm hiểu văn hóa - lịch sử, ẩm thực, lễ hội, tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng tâm linh… giúp đa dạng hóa, tăng sức hấp dẫn của điểm đến, kéo dài thời gian lưu trú và tăng thu nhập cho các địa phương ven biển.
Hệ thống cơ sở hạ tầng như đường không và đường bộ tới các tỉnh ven biển khá thuận lợi. Riêng về du lịch tàu biển, mặc dù có xu hướng phát triển nhanh ở cả thế giới và khu vực, Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế, tuy nhiên du lịch tàu biển ở Việt Nam vẫn chưa phát triển tương xứng do chưa có hạ tầng phù hợp. Hiện cả nước mới có 01 cảng biển du lịch ở Quảng Ninh, còn lại phải sử dụng cảng hàng hóa nên không đảm bảo điều kiện đón khách. Khách du lịch tàu biển mới chỉ chiếm khoảng 1-1,5% tổng lượng khách quốc tế của cả nước.
Năm 2020 và 2021, du lịch ven biển Việt Nam chịu thiệt hại hết sức to lớn bởi đại dịch Covid-19. Tổng lượng khách quốc tế đến các tỉnh ven biển năm 2020 chỉ đạt 6 triệu lượt, bằng 18% của năm 2019, khách nội địa đạt 78 triệu lượt, bằng 54% của năm 2019. Từ đầu năm 2022 ghi dấu sự hồi phục rất nhanh chóng của thị trường khách du lịch nội địa, đặc biệt tới khu vực biển đảo. Với chính sách mở cửa thị trường du lịch khách quốc tế từ 15/3/2022, lượng khách du lịch quốc tế cũng đang dần tăng trưởng trở lại. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tích cực triển khai các công tác truyền thông quảng bá, kích cầu du lịch nội địa, hướng dẫn các địa phương trong công tác phục hồi hoạt động du lịch, tổ chức nhiều sự kiện mở đầu mùa du lịch biển. Du lịch biển cũng đang là khu vực chính tạo ra những động lực phục hồi của ngành du lịch.
Bên cạnh các kết quả về phát triển kinh tế, phát triển du lịch biển còn gắn với công tác bảo vệ môi trường, phát huy truyền thống văn hóa, phát triển cộng đồng và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Thời gian qua, việc phát triển du lịch ở các địa phương ven biển đã thu hút được sự tham gia của người dân, góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân địa phương ven biển. Hàng năm, trong công tác chỉ đạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch luôn tích cực triển khai các nhiệm vụ môi trường, các nhiệm vụ gắn với ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Bên cạnh đó, cũng thực hiện từng bước các nhiệm vụ gắn với hỗ trợ cồng đồng về cải thiện sinh kế của người dân, đảm bảo quyền lợi tiếp cận của người dân với biển.
Để tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Nghị quyết 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang chỉ đạo ngành du lịch tập trung các biện pháp phục hồi ngành du lịch, nâng cao năng lực của các địa phương, trong đó tập trung cho các địa phương ven biển là những địa phương trọng yếu thu hút khách du lịch để tạo đà cho các năm tiếp theo tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế biển.
Để du lịch biển phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, tiếp tục giữ vai trò động lực trong phát triển kinh tế biển bền vững, trong thời gian tới cần tập trung triển khai những giải pháp trọng yếu sau:
- Cần tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao ở các khu vực động lực phát triển du lịch ven biển cùng các chính sách phát triển sản phẩm du lịch biển đảo tạo ra sự phát triển đột phá cho du lịch biển đồng thời vươn ra các đảo xa bờ.
- Để có thể phát triển các trung tâm du lịch biển tầm cỡ, quy mô quốc tế như định hướng của Nghị quyết 36/-NQ/TW, cần tập trung thu hút các nhà đầu tư phát triển các dự án trọng điểm, tránh manh mún, tránh sự trùng lắp về nội dung, quy mô, hình thức dự án. Tập trung vào thế mạnh nổi trội, lợi thế cạnh tranh và tính đặc thù của từng vùng biển, từng địa phương để xác định tính chất dự án.
- Cần bổ sung danh mục ưu đãi đầu tư lĩnh vực đầu tư phát triển du lịch sinh thái biển để thúc đẩy phát triển các khu du lịch sinh thái biển chất lượng cao, mang tầm cỡ quốc tế, khai thác bền vững và có trách nhiệm hệ sinh thái biển.
- Cần có chính sách đầu tư phát triển cảng biển du lịch để đón được lượng khách du lịch tàu biển chất lượng cao, tập trung trước mắt tại khu vực Duyên hải Nam trung bộ, đồng thời cải thiện vấn đề quá tải của các cảng hàng không như Tân Sơn Nhất, Cam Ranh.
- Tập trung tổ chức các sự kiện, lễ hội biển mang tầm cỡ và tiếng vang để đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá, thúc đẩy phát triển thương hiệu du lịch biển.
- Cần quản lý tốt công tác an toàn, an ninh trật tự, vệ sinh, môi trường ở các khu, điểm du lịch, quản lý sức chứa và các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được phân công tại Nghị quyết 36/NQ-TW, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục đề xuất các chính sách và phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai các nhiệm vụ, giải pháp nêu trên.
Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu./.
|
|
BỘ TRƯỞNG |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh